Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Khi bị chấn thương nên chườm nóng hay chườm lạnh?


Người ta thường làm dịu đi những cơn đau khi chấn thương bằng túi chườm. Nhưng ít ai chú ý rằng các dạng chườm nóng - lạnh hầu như đều có thể mang đến cảm giác dễ chịu, làm dịu cơn đau nhưng thực tế tác dụng của 2 trạng thái nhiệt độ đối lập ấy có nhiều điểm trái ngược nhau.
 
BS Mai Văn Thu, Trưởng Phòng Kế hoạch - Tổng hợp BV Chỉnh hình và Phục hồi chức năng TPHCM, cho biết cơn đau do chấn thương tốt nhất nên được xử lý bằng cách chườm lạnh. Các hình thức va chạm, té ngã thường dẫn đến sưng, chảy máu, có thể là vết thương hở hoặc là một vết thương "ẩn" gây xuất huyết bên trong.
 
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Dạng tổn thương này thường gây sưng đỏ ban đầu tại nơi chấn thương. Trong vòng 48 giờ sau chấn thương, quá trình tự ly giải của cơ thể sẽ biến máu đỏ sang màu đỏ sậm và tạo ra vết bầm. Vết thương dạng này nếu được chườm lạnh sẽ mau bớt đau và mau lành do nhiệt độ thấp, giúp mạch máu co lại dễ dàng và ngưng xuất huyết.
 
Chườm nóng vẫn có thể được áp dụng nhưng chỉ khi vết thương đã lành, ổn định, lúc đó chườm nóng có thể giúp mau tan máu bầm. Tuy nhiên, cũng nên cẩn thận, bởi chườm nóng quá, lâu quá có thể khiến da bị tổn thương thêm. Chườm nóng sớm quá khi vết thương chưa kịp lành sẽ khiến tình trạng xuất huyết nặng thêm.
 
"Đặc biệt, nên lưu ý các vết thương ở vùng cẳng chân, chườm nóng không đúng lúc gây xuất huyết dễ dẫn đến chèn ép khoang, gây sưng tấy, nhiễm trùng, nguy hơn là hoại tử" - BS Thu khuyến cáo. Ông cũng cho biết một số bệnh nhân khác phải vào bệnh viện vì phỏng, do nôn nóng làm tan máu bầm mà chườm quá nóng. Tốt hơn hết nên để máu bầm tự tan đi hoặc uống thuốc tan máu bầm.
Chườm nóng sẽ đặc biệt có hiệu quả trong tình huống cần hạ sốt. Không nên chườm lạnh trong trường hợp này, bởi có thể gây co giật vì hạ sốt đột ngột và cũng không nên để bệnh nhân từ sốt thành… phỏng do chườm quá nóng, nhất là ở những vùng da khá mỏng manh như mặt, cổ...
Tương tự khi chườm lạnh, không nên áp ngay… một viên đá cục vào vùng bị thương mà nên quấn đá trong vài lớp khăn hoặc thấm khăn vào nước lạnh. "Dù là chườm nóng hay chườm lạnh, cần để nhiệt độ ở mức cơ thể có thể chịu được, không gây đau đớn hay khó chịu" - BS Thu lưu ý.
 

Theo Người lao động

Biểu hiện cơ xương khớp của bệnh luput ban đỏ hệ thống

Lupus ban đỏ hệ thống gây nguy hiểm nhiều cho khớp. Bệnh này phổ biến ở phụ nữ nhiều hơn gấp 9 lần ở đàn ông, đặc biệt là ở lứa tuổi từ 15 - 50.

Những biểu hiện điển hình
Đa số những bệnh nhân mắc bệnh luput ban đỏ thường gặp là triệu chứng đau khớp, sưng khớp có nhưng hiếm gặp hơn. Sưng khớp thường đối xứng hai bên cơ thể và không gây tổn thương khớp. Những khớp thường bị nhất là các khớp ở bàn tay, cổ tay và khớp gối.
Biểu hiện cơ xương khớp của bệnh luput ban đỏ hệ thống 1
Biểu hiện đau khớp ở bệnh luput ban đỏ
Ngoài ra, bệnh nhân còn có nhiều triệu chứng tổn thương ở các bộ phận khác như: ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh sáng); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận hư, suy thận); tổn thương cơ quan tạo máu (giảm 1 hay 3 dòng tế bào máu); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương tâm thần, thần kinh;... Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ phổi...
Đối với những bệnh nhân lupus, đặc biệt là những người phải sử dụng corticoid liều cao, có thể một số dạng tổn thương khớp do giảm máu nuôi gây chết các xương trong khớp. Tình trạng này được gọi là hoại tử vô mạch và thường gặp nhất ở các khớp háng và khớp gối. Thỉnh thoảng, một số cơ có thể bị viêm và rất đau, làm cho bệnh nhân trở nên yếu ớt và mệt mỏi hơn.
Điều trị như thế nào?
Luput ban đỏ hệ thống có thể điều trị được bằng cách điều trị các triệu chứng của bệnh, chủ yếu bằng các corticosteroid và các chất ức chế miễn dịch; nhưng chưa có biện pháp chữa trị triệt để nào. Luput ban đỏ hệ thống có thể nguy hiểm chết người, nhưng với những tiến bộ trong y học hiện nay, tử vong đang trở nên hiếm hơn. Tỉ lệ sống sót ở những bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống ở Hoa Kỳ, Canada và châu Âu là khoảng 95% trong 5 năm, 90% trong 10 năm và 78% ở 20 năm.
Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamide, methotrexate; thuốc chống sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng cao thể trạng... Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc cho thích hợp.
Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm khuẩn răng miệng.
Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc các quần áo bằng chất liệu chống nắng, dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài. Về sức khỏe sinh sản, các bác sĩ thường khuyên người bệnh chỉ có thể mang thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh có xu hướng nặng lên khi mang thai, do đó, khi có thai, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.

Theo BS Nguyễn Hưng - Sức khỏe & Đời sống

Làm gì khi đau mỏi khớp lúc chuyển mùa?

Rễ cỏ xước 30g, kê huyết đằng 30g, hai vị tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày

Theo y học cổ truyền, thời tiết thay đổi là điều kiện rất thuận lợi để các yếu tố gây bệnh (được gọi là tà khí) như phong, hàn, thử, thấp...xâm nhập và cơ thể, lưu đọng lại ở các khớp xương khiến kinh lạc bị trở trệ, khí huyết kém lưu thông mà phát sinh chứng đau mỏi, đau nhức ở các khớp.

Làm gì khi đau mỏi khớp lúc chuyển mùa? 1

Để dự phòng tích cực và khắc phục tình trạng này một cách đơn giản có thể sử dụng các biện pháp sau đây:
Dầu xoa bóp: Có thể mua tại các hiệu thuốc hoặc tự chế để xoa các khớp. Rượu thuốc xoa bóp có thể dùng một trong các công thức:
Bài 1: Khương hoạt 15g, độc hoạt 15g, quế chi 15g, tần giao 15g, đương quy 15g, dây đau xương 15g, nhũ hương 15g, một dược 15g, mộc hương 15g, tang chi 15g, tất cả tán vụn đem ngâm với 1500 ml rượu cao độ trong bình kín, sau 7 ngày thì dùng được.
Bài 2: Hồng hoa 60, đào nhân 6g, nhũ hương 6g, đương quy 12g, sinh nam tinh 12g, sinh bán hạ 12g, sinh xuyên ô 9g, khương hoạt 9g, độc hoạt 9g, bạch giới tử 3g, băng phiến 3g, tế tân 4,5g, tạo giác 4,5g, tất cả tán vụn đem ngâm với 1.000ml rượu cao độ trong bình kín, sau 7 ngày thì dùng được.
Bài 3: Đương quy 12g, độc hoạt 12g, khương hoạt 12g, thiên niên kiện 10g, hồng hoa 8g, tô mộc 12g, nhục quế 8g, tần giao 12g, huyết giác 12g, ngải diệp 6g, mộc qua 10g, tất cả tán vụn đem ngâm với 1.000ml rượu cao độ trong bình kín, sau 7 ngày thì dùng được. Cả ba loại rượu xoa bóp này chỉ được dùng ngoài, không được uống.
Ngoài ra, có thể dùng ngải cứu tươi một nắm to, cắt đoạn dài chừng 2cm, muối ăn 1 bát đem rang cho đến khi hết tiếng nổ thì bỏ ngải cứu vào, đảo nhanh tay rồi đổ ra khăn ba lớp, bọc lại đem chườm vào các khớp đau mỏi, mỗi ngày 1 đến 2 lần. Cũng có thể dùng lá ngải đặt lên tấm gang hoặc viên gạch đã được nung nóng rồi dùng hơi thuốc xông các khớp hoặc nấu lấy nước ngâm rửa cùng với một vài thứ lá như xương sông, cỏ xước, lá lốt...
Thuốc sắc: Dùng một trong số các bài thuốc đơn giản để sắc uống:
Bài 1: Cỏ xước 15g, xấu hổ 15g, ý dĩ 15g, thổ phục linh 20g, kê huyết đằng 15g, cam thảo 6g, quế chi 12g, độc hoạt 10g, rễ đinh lăng 15g, vỏ quýt 8g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Bài 2: Độc hoạt 10g, cốt khí củ 15g, cốt toái bổ 15g, dây đau xương 15g, cỏ xước 15g, cam thảo dây 6g, tỳ giải 12g, thiên niên kiện 8g, vỏ quýt 8g, hà thủ ô 12g, rễ đinh lăng 12g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Bài 3: Thổ phục linh 15g, uy linh tiên 12g, độc hoạt 8g, ngũ gia bì 15g, ké đầu ngựa 12g, hoàng kỳ 12g, xuyên khung 8g, cẩu tích 15g, cam thảo 6g, sinh khương 3 lát, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Trà thuốc
Bài 1: Rễ cỏ xước 30g, kê huyết đằng 30g, hai vị tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày.
Bài 2: Sinh địa 50g, khương hoạt 30g, độc hoạt 30g, kê huyết đằng 40g, đương quy 30g, thiên ma 20g, ngưu tất 20g, tỳ giải 20g, tất cả sấy khô, tán vụn, mỗi ngày lấy 20-30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Bài 3: Dâm dương hoắc 30g, uy linh tiên 30g, xuyên khung 30g, nhục quế 30g, ké đầu ngựa 30g, tất cả sấy khô, tán vụn, mỗi ngày lấy 20-30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Nhìn chung các phương pháp trên đều rất đơn giản, dễ kiếm, dễ chế, dễ dùng, rẻ tiền và đảm bảo tính an toàn. Có thể dùng để dự phòng tích cực, hỗ trợ trị liệu và điều trị duy trì chứng đau mỏi các khớp khi thời tiết thay đổi.

 Theo Ths Hoàng Khánh Toàn - Sức khỏe & Đời sống

Phát hiện sớm chứng vẹo cột sống ở trẻ em

Vẹo cột sống là tình trạng cột sống bị lệch sang một bên, khác với trạng thái bình thường. Cần phải phát hiện bệnh càng sớm càng tốt để có cách thức điều trị kịp thời.


Phát hiện sớm chứng vẹo cột sống ở trẻ em
Ảnh minh họa (Nguồn: Lao động)
Vẹo cột sống là một trong những dị tật ảnh hưởng từ 2 - 3% dân số, ngoài nguyên nhân do bẩm sinh, bệnh lý, phải lao động sớm, ngồi học không đúng tư thế... phần lớn là không rõ nguyên nhân.

Rất nhiều trẻ bị vẹo cột sống nhưng không được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời nên việc vẹo cột sống ngày càng nặng. Thực tế với trẻ dưới 4 tuổi, việc luyện tập có thể giúp khỏi bệnh nhưng với những trẻ lớn bị vẹo nhiều cần được phẫu thuật và phục hồi chức năng sau mổ.

Cột sống là thành phần chống đỡ quan trọng nhất của cơ thể, được tạo bởi 24 mảnh xương sắp xếp theo thứ tự chồng lên nhau tạo thành cấu trúc hoàn chỉnh. Khi bị vẹo, cột sống không còn thẳng mà cong ngược hoặc xuôi, hoặc cong hai đoạn như hình chữ S.

Khoa Phẫu thuật cột sống BV Hữu nghị Việt Đức đã tiếp nhận rất nhiều trường hợp bị vẹo nặng, phần vì phát hiện muộn không được điều chỉnh kịp thời, phần vì điều trị không đúng cách thậm chí còn uống thuốc Đông y khiến bệnh vẹo ngày càng tiến triển nặng. Có trường hợp được chỉ định phẫu thuật nhưng chỉ khắc phục được một phần vì cột sống đã cong góc quá lớn.

Trẻ bị vẹo cột sống sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, chậm phát triển về chiều cao. Về lâu dài có thể ảnh hưởng đến ngực, khung chậu và chèn ép tim, phổi và gan.

Chứng vẹo cột sống ở trẻ cần được phát hiện sớm do thời gian là yếu tố quan trong có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả điều trị. Khi góc vẹo còn nhỏ, trẻ có thể sử dụng áo chỉnh hình để theo dõi sát, nhưng khi góc vẹo từ 50 độ trở lên và mặc áo nẹp không có tác dụng thì bác sĩ sẽ xem xét để đi đến phẫu thuật chỉnh hình vẹo hiệu quả.

Theo VTV News

Tránh để cột sống cổ chấn thương

Cột sống cổ là đoạn cột sống quan trọng hàng đầu với các bệnh lý chấn thương hay bệnh lý chỉnh hình phức tạp.

PGS.TS - BS Võ Văn Thành, chủ tịch Hội Nghiên cứu cột sống cổ châu Á - Thái Bình Dương, vừa trở về sau một hội nghị nghiên cứu cột sống cổ ở khu vực đã chia sẻ những điều đơn giản có thể làm để bảo vệ cột sống cổ khỏi những chấn thương gây tàn phế.
PGS.TS.BS Võ Văn Thành - Ảnh: Kim Sơn
- Cột sống cổ tuy chiếm chỉ bảy đốt xương sống trên tổng số 33 đốt sống ở người, nhưng lại là đoạn cột sống quan trọng hàng đầu với các bệnh lý chấn thương hay bệnh lý chỉnh hình phức tạp. Bệnh lý chấn thương cột sống cổ do nhiều nguyên nhân khác nhau, thường thấy nhất hiện nay là tai nạn xe gắn máy.
Cũng có người tập yoga trồng cây chuối mà tư thế xấu, thân thể quá nặng, gập người gây gãy cổ. Có người chơi nhảy cừu lên lưng người - té cắm đầu xuống cát, nhảy tắm sông (hay ao hồ) chúi đầu xuống mực nước cạn, té cao cắm đầu xuống nền cứng, trượt té đập mặt xuống đất ngửa cổ hay cổ đập vào tường nhà khiến đầu cổ - ngực gập lại quá mức...
Người gặp nạn có thể tử vong tức thì hay khi di chuyển sai tư thế trên đường đến bệnh viện. Liệt vận động tứ chi, bí tiểu có thể thấy ngay sau khi bị chấn thương cột sống cổ hoặc xuất hiện sau khi chuyển bệnh nhân sai tư thế. Bệnh nhân có thể bị suy hô hấp, viêm phổi, xẹp phổi, loét da, teo cơ và rất nhiều biến chứng khác cần theo dõi điều trị kịp thời.
* Xin hỏi ông cách phòng tránh và cần lưu ý gì khi cấp cứu nạn nhân bị chấn thương cột sống cổ?
- Mục tiêu chính khi sơ cứu người bị chấn thương cột sống cổ là cho bệnh nhân nằm bất động để không làm tổn thương tủy sống cổ thêm. Đặt bệnh nhân nằm ngửa trên cáng hay ván cứng có lót mền hay nệm mỏng, hai bên đầu chêm hai túi cát. Cột hay dán: vùng trán, vùng ngực... xuống hai bên cáng khiêng hay ván cứng.
Không cho ngồi, không vác vai hay kéo lê bệnh nhân cổ gập, không chở ngồi trên xe gắn máy, không chở ngồi trên xe đạp, xích lô hay taxi... Hành động sơ cứu tuy giản dị nhưng cứu được khoảng 25% bệnh nhân chấn thương cột sống cổ khỏi tử vong trên đường đến bệnh viện.
Phòng tránh chấn thương cột sống cổ có thể thực hiện được trong đa số trường hợp: khi lái xe phải làm chủ tốc độ, tôn trọng Luật giao thông, không uống rượu bia say xỉn, không gọi điện thoại cầm tay khi đang lái xe. Đội mũ bảo hộ trong nhà kho, công trường, lâm trường. Phải quan sát kỹ trước khi nhảy tắm chúi đầu xuống hồ hơi hay sông nước... Ngoài ra, về mặt khách quan, cơ quan chức năng có trách nhiệm chú ý chất lượng và luôn bảo trì tốt đường sá giúp người dân tránh những tai nạn sụp ổ gà, ổ trâu...
* Nhiều người đau ở sau gáy không xoay cổ được, đi khám bác sĩ nói thoái hóa đốt sống cổ phải mổ. Người bệnh sợ mổ, đi châm cứu bấm huyệt, thấy giảm đau. Vậy khi nào phải mổ?
- Đây thuộc nhóm bệnh lý chỉnh hình cột sống cổ, bao gồm các bệnh như bệnh lý tủy sống cổ (thường gặp sau tuổi 40 do thoát vị đĩa đệm cột sống cổvà sau tuổi 50 do thoái hóa cột sống cổ).
Một số trường hợp tủy sống cổ bị chèn ép do cột hóa dây chằng dọc sau hay dây chằng vàng. Cần lưu ý không phải ai bị chẩn đoán thoái hóa đĩa đệm hay thoát vị đĩa đệm đều bị bệnh này, mà chỉ một tỉ lệ nhỏ mắc bệnh. Bệnh lý rễ thần kinh cổ (ít gặp hơn, cổ thường rất đau, nhất là khi xoay cổ và ngó ngoái cổ ra sau lên trời).
Lao cột sống cổ; viêm dính cột sống cổ; vẹo cột sống cổ do co rút cơ ức đòn chủm; còng cột sống cổ do bệnh lý đa u sợi thần kinh; vẹo cột sống cổ do dị tật bẩm sinh; đau cơ sợi vùng cổ - vai - quanh xương bả vai (đây là bệnh lý thường gặp có liên quan đến sự căng thẳng trong cuộc sống hằng ngày, trầm cảm. Bệnh nhân có biểu hiện đau hai bên gốc cổ khi ấn vào nơi bám cơ cổ...
Giải quyết vấn đề căng thẳng, giảm áp lực, thư giãn, dùng thuốc chống trầm cảm hay các loại khác dưới sự hướng dẫn của bác sĩ giúp lấy lại thăng bằng trong cuộc sống sẽ giải quyết bệnh lý này); thấp ngoài khớp ảnh hưởng đau vùng cổ (đau khớp do viêm khớp dạng thấp, đau cổ vai, giới hạn cử động xoay, cúi hay ngửa cổ. Sáng ngủ dậy có thể bị đơ cổ và thường xuyên mỏi cổ...).
Việc chẩn đoán không còn khó khăn với kỹ thuật hình ảnh học hiện đại. Phát hiện bệnh sớm và điều trị sớm luôn là mấu chốt của vấn đề bảo vệ sức khỏe.
Nhiều bệnh nhân tiền mất tật mang do bị "can thiệp quá trớn" bằng các quảng cáo: đốt sống cao tầng, đốt laser giảm áp, cắt đĩa sống nội soi, thậm chí mổ cắt đĩa thay đĩa đệm không đúng chỉ định, không cần thiết, nhưng lại sinh biến chứng liệt tứ chi hay hạ chi.
Bệnh nhân cần được thăm khám lâm sàng cẩn thận trước khi khảo sát hình ảnh học tỉ mỉ; sau đó kết hợp các dữ liệu để hình thành chẩn đoán chính xác, phù hợp cả lâm sàng và hình ảnh học. Chỉ định phẫu thuật lại càng phải thận trọng hơn nữa.
Day bấm huyệt là cách điều trị không quy ước, không phải lúc nào cũng chỉ định hợp lý mà tính cảm tính nhiều hơn.
* Bệnh nhân BHYT có được thừa hưởng các kỹ thuật cao?
- Trong điều trị phẫu thuật với dụng cụ tốn kém thường xảy ra hai trường hợp. Đơn cử bệnh lý tủy sống cổ do thoát vị đĩa đệm cổ:
1. Dụng cụ cần thiết nhưng mắc tiền: hàn xương với ghép mào chậu và nẹp tốn hơn mươi triệu đồng.
2. Dụng cụ không cần thiết mà mắc tiền: thay đĩa đệm cột sống cổ một tầng có khi chỉ định đã vô lý trong điều kiện nước ta (hiện ở bệnh viện tư thu ít nhất 70 triệu), hai tầng càng vô lý vì tai biến nhiều mà không cần (bệnh viện tư thu 130 triệu), có ca mổ thoái hóa đĩa đệm không chỉ định thay mà vẫn được thay, không hữu hiệu lại liệt vận động tứ chi (do chỉ định sai), thay đĩa đệm ba tầng thì càng... tệ hơn dù càng tốn tiền! Ngay khi chỉ định đúng, những nghiên cứu mới nhất trong điều trị thoát vị đĩa đệm cổ cho thấy không khác nhau trong việc hàn xương tốn hơn mươi triệu so với thay một tầng đĩa sống tốn hơn 70 triệu. Về mặt kinh tế y tế vĩ mô, việc lạm dụng không chỉ làm khổ dân mà tốn kém cho xã hội là con số khổng lồ.
Với bệnh nhân có thẻ BHYT sẽ được chi trả hết dưới ngưỡng chi nào đó tùy theo bệnh, nếu trên ngưỡng tiền hưởng kỹ thuật cao thì người bệnh phải tự trả.

Theo Tuổi Trẻ

Những lầm tưởng sai lệch về đau lưng

Đau lưng có nhiều nguyên nhân như thoát vị đĩa đệm, loãng xương, căng cơ… Tuy nhiên, có những lầm tưởng về bệnh đau lưng khiến cho bệnh càng trầm trọng hơn.

Đau lưng là bệnh khá phổ biến, đứng thứ 2 sau bệnh đau đầu. Cứ 10 người thì có 8 người mắc bệnh đau lưng.
1. Những lầm tưởng
Luôn ngồi thẳng lưng
Giữ lưng luôn thẳng trong khi làm việc là một việc làm sai lầm, việc này sẽ không tốt cho lưng của bạn. Ngồi thẳng lưng trong thời gian dài sẽ gây thêm áp lực cho cột sống của bạn, từ đó dẫn đến đau lưng và một số bệnh liên quan đến xương khớp. Vì vậy, nếu ngồi nhiều, hãy thường xuyên thay đổi tư thế, ngồi ngay ngắn trên ghế, chân để xuống sàn nhà, lưng hơi cong. Ngoài ra, khoảng 1 tiếng bạn phải đứng lên đi lại để tránh gây áp lực cho lưng.
nhung-lam-tuong-sai-lech-ve-dau-lung
Không nâng vật nặng
Bạn không nên nâng bất cứ thứ gì quá nặng đối với mình. Khi nâng, bạn nên ngồi xổm gần với đối tượng, lưng thẳng, sau đó từ từ đứng lên. Không xoắn hoặc uốn cong cơ thể khi nâng vật nặng, điều đó sẽ khiến lưng của bạn bị tổn thương.
Giường là nơi điều trị tốt nhất
Nghỉ ngơi có thể giúp chấn thương hoặc những căng thẳng do đau lưng trở nên tốt hơn. Nhưng nếu bạn nằm trên giường trong một khoảng thời gian dài, nó không những giúp giảm đau lưng mà còn có thể khiến cho bệnh đau lưng của bạn ngày một tồi tệ hơn.
Đau lưng do tai nạn, thương tích
Thực tế, tai nạn, thương tích không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra đau lưng. Thoát vị đĩa đệm, thoái hóa, thương tích, bệnh tật, nhiễm trùng, thậm chí những yếu tố di truyền có thể gây ra đau lưng.
Chỉ những người gầy mới đau lưng
Bất cứ ai cũng có thể đau lưng, nhưng trong thực tế, những người quá gầy chẳng hạn những người mắc bệnh chán ăn, rối loạn ăn uống có thể dẫn tới tình trạng yếu xương, còi xương, từ đó gây ra bệnh đau lưng.
Tập thể dục không tốt cho lưng
Đó là một sai lầm! Thực tế, việc tập thể dục thường xuyên giúp ngăn ngừa đau lưng. Và tốt cho những người đau lưng dưới do chấn thương. Bác sĩ sẽ có một chương trình tập luyện riêng cho những người này, bắt đầu từ các bài tập nhẹ nhàng sau đó tăng dần cường độ. Sau khi cơn đau giảm xuống, một chế độ tập luyện có thể giúp ngăn ngừa bệnh đau lưng tái phát trong tương lai.
Nệm cứng tốt hơn
Một nghiên cứu về các nguyên nhân đau lưng không rõ ràng cho thấy, những người ngủ trên một tấm nệm mềm ít bị các cơn đau lưng hành hạ hơn những người ngủ trên một tấm nệm cứng. Tuy nhiên, tùy thuộc vào thói quen ngủ của họ và nguyên nhân gây ra đau lưng mà cần những tấm nệm khác nhau.
2. Những điều đúng đắn
Tác động cột sống có thể giúp giảm đau lưng
Giảm áp lực cột sống là một phương pháp điều trị không phẫu thuật tiên tiến nhất, giúp bệnh nhân giảm đau bằng cách làm giảm lực tác động lên các dây thần kinh cột sống. Trong suốt quá trình điều trị, các đĩa đệm được tách biệt và chịu một lực âm, bằng việc tạo ra một "tác động chân không" từ bên trong đĩa đệm. Các áp lực lên cột sống sẽ được giảm một cách ngắt quãng và theo chu kỳ.
Phương pháp giảm áp lực cột sống không chỉ giảm đến mức tối thiểu lực ép lên đĩa đệm, đưa đĩa đệm trở lại vị trí bình thường, mà còn cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho đĩa đệm. Song song đó, oxy, nước và các chất dinh dưỡng cần thiết khác cũng được đưa đi khắp đĩa đệm, giúp đĩa đệm phục hồi và hoạt động trở lại bình thường.
nhung-lam-tuong-sai-lech-ve-dau-lung
Châm cứu có thể giảm đau
Một nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại học Sheffield ở Vương quốc Anh cho rằng: châm cứu có khả năng giảm được chứng đau lưng dai dẳng, và có lợi ích kinh tế hơn. Đa số bệnh nhân cũng chọn châm cứu là biện pháp tối ưu để điều trị đau lưng. Yoga, thư giãn, và liệu pháp nhận thức hành vi cũng có thể được dùng trong quá trình trị liệu này.

Theo Tri Thức Trẻ

Điều trị loãng xương

Biểu hiện lâm sàng của loãng xương chỉ xuất hiện khi trọng lượng xương giảm trên 30%. Sự xuất hiện từ từ tự nhiên hoặc sau chấn thương, đôi khi tình cờ chụp Xquang mà thấy.

Biểu hiện lâm sàng là một hội chứng cột sống: đau và hạn chế vận động cột sống, cánh chậu, bả vai. Đau làm cho cột sống cứng đờ, co thắt các cơ cạnh sống, gõ ấn vào các gai sau đốt sống đau tăng và lan tỏa. Đau tăng khi vận động, đứng, ngồi lâu, đau giảm khi nghỉ ngơi. Tái phát từng đợt, thường sau khi vận động nhiều, chấn thương nhẹ, thay đổi thời tiết. 
Đôi khi có hội chứng rễ thần kinh biểu hiện bằng đau thần kinh hông to, đau thần kinh liên sườn vùng ngực bụng. Cột sống giảm dần chiều cao, biến dạng đường cong sinh lý dẫn đến gù vùng lưng hay thắt lưng, chiều cao cơ thể giảm đi rõ rệt so với khi còn trẻ tuổi. Xương dễ gãy, đôi khi chỉ một chấn thương nhẹ cũng làm gãy cổ xương đùi, gãy đầu dưới xương quay, gãy lún đốt sống.
Qua phim chụp Xquang sẽ nhận thấy hình ảnh đốt sống bị đóng khung, hình ảnh lún đốt sống. Ngoài ra còn có thể phát hiện loãng xương bằng phương pháp đo mật độ xương bằng chỉ số T score.
Điều trị loãng xương 1
Vai trò của canxi
Việc điều trị loãng xương cần căn cứ tình trạng bệnh cụ thể. Tuy nhiên phải lưu ý đến các yếu tố tham gia chuyển hóa canxi và tăng cường canxi cho cơ thể. Canxi là nguyên tố hoạt động nhất trong cơ thể con người, chiếm 1,5-2% trọng lượng cơ thể, trong đó 99% tồn tại trong xương, răng, móng, chỉ có 1% tồn tại trong máu, tế bào và ngoại bào. 
Trong cơ thể, canxi đóng vai trò truyền dẫn thông tin, tham gia vào hầu hết các hoạt động của cơ thể và của tế bào. Nồng độ canxi trong máu nếu giảm sẽ bị chuột rút, chân tay co giật, ngược lại nếu tăng quá thì sẽ bị loạn nhịp tim... Khi cơ thể thiếu canxi, hệ thống tự điều chỉnh sẽ điều tiết để duy trì sự ổn định của nồng độ canxi máu.
Các yếu tố tham gia chuyển hóa canxi
Hormon cận giáp: làm tăng hấp thu canxi ở ruột, tăng vận chuyển canxi từ xương vào máu. Do đó làm tăng nồng độ canxi trong máu và tham gia quá trình gây loãng xương.
Hormon tuyến giáp là hormon hạ canxi máu, ức chế tiêu xương đồng thời làm tăng tạo xương, tác dụng ngược với hormon cận giáp.
Vitamin D có hai loại: loại tổng hợp (ergocalciferol - D2) và loại tự nhiên (cholecalciferol - D3). Chất calcitrol tạo ra trong quá trình chuyển hóa vitamin D là chất có hoạt tính sinh học mạnh, có tác dụng làm tăng hấp thu canxi ở ruột và tăng gắn canxi vào xương.
Hormon sinh dục: hormon sinh dục nam có tác dụng đồng hóa, tăng đồng hóa protid, giữa nitơ và các muỗi K+, Na+, phospho, Ca++... nên làm phát triển cơ xương; hormon sinh dục nữ giúp tăng hấp thu và tái hấp thu canxi.
Glucocorticoid của vỏ thượng thận có tác dụng làm tăng thải trừ canxi và phospho qua nước tiểu, giảm hấp thu Ca++ ở ruột do đối kháng với vitamin D, do đó có xu hướng làm giảm Ca++ trong cơ thể và có thể dẫn tới cường cận giáp trạng và làm xương bị thưa thêm.
Dự phòng và điều trị loãng xương
Thuốc giảm đau chỉ nên dùng khi đau nhiều, nên dùng nhóm non-steroid, không dùng corticoid. Ngoài ra còn có thể bổ sung canxi đường uống, vitamin D2hoặc D3. Kết hợp dùng nội tiết tố sinh dục:
Loãng xương tuổi mãn kinh, typ I: cho phối hợp cả oestrogen và progesteron để tránh tai biến ung thư tử cung.
Loãng xương người già, typ II: dùng testosteron hoặc durabulin (nandrolone phenylpropionat).
Bên cạnh đó, có thể sử dụng các thuốc làm tăng khối lượng xương: thyrocalcitonin (miacalcic, calcitar, calsyn, cibacalcin - là hoạt chất calcitonin cá hồi tổng hợp), biphosphonate; các loại cao xương, cao toàn tính động vật, các loại sữa gầy giàu canxi.
Bệnh nhân cũng cần có một chế độ ăn đảm bảo lượng canxi từ 0,8-1g/ngày, chế độ vận động hợp lý, hạn chế chất kích thích (rượu bia, thuốc lá...).
Phương pháp vật lý trị liệu để giảm đau, đặc biệt dùng hồng ngoại và tử ngoại để tăng cường hấp thu vitamin D, từ trường để chống loãng xương.
Bệnh nhân cần tăng cường vận động phù hợp với khả năng. Kết hợp uống canxi (0,5-1,5g/ngày) và vitamin D kéo dài; dùng nội tiết tố kéo dài sau tuổi mãn kinh: microfolin (ethinylestradiol), progesteron tùy theo từng thời điểm.

Theo BS Mai Trung Dũng - Sức khỏe & Đời sống