Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Kiểm soát cơn đau cơ xương khớp tại nhà

Những cơn đau của bệnh lý cơ xương khớp thông thường có thể không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống, tâm sinh lý của người bệnh. Nếu không được xử trí sớm, tình trạng viêm sẽ nhanh chóng nặng lên và lan rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vận động, sinh hoạt hàng ngày.
benh-6622-1385522259.jpg
Mùa đông nên đặc biệt lưu ý đến các bệnh lý về cơ xương khớp. Ảnh: Lê Anh
Theo BS Phạm Quang Thuận, Trưởng khoa Nội cơ xương khớp, BV Thể thao Việt Nam, để kiểm soát các cơn đau của bệnh lý cơ xương khớp tại nhà, người bệnh có thể sử dụng một số các thuốc giảm đau, giảm đau kháng viêm thông thường không cần kê đơn (OTC) như:
- Các thuốc giảm đau thông thường có chứa paracetamol là lựa chọn hàng đầu cho chứng đau cơ xương khớp mức độ vừa và nhẹ, bởi ưu điểm phù hợp với nhiều đối tượng và không ảnh hưởng đến dạ dày. 
- Các thuốc kháng viêm giảm đau không steroids (NSAIDs) như diclophenac dưới dạng gel thoa ngoài da hay cao dán. 
- Có thể phối hợp các thuốc trên để đạt hiệu quả tốt hơn. Cũng cần kết hợp nghỉ ngơi hoặc luyện tập thích hợp, sử dụng phương tiện, dụng cụ hỗ trợ, vật lý trị liệu, chế độ dinh dưỡng phù hợp.
- Thận trọng với các thuốc dùng tại chỗ (gel, cao dán) có chứa tinh dầu nóng, gây giãn mạch mạnh trong những trường hợp đau cơ xương khớp cấp tính do viêm (các chứng viêm khớp cấp, chấn thương giai đoạn cấp).
- Khám và tư vấn bác sĩ nếu triệu chứng viêm đau không giảm sau vài ngày điều trị. Tránh lạm dụng thuốc.
BS Thuận khuyến cáo, để phòng tránh các bệnh cơ xương khớp trong mùa lạnh, mọi người phải luôn giữ ấm cơ thể, nhất là vùng cơ thể xa tim như tay, chân. Có chế độ lao động, nghỉ ngơi thích hợp, đặc biệt lưu ý tư thế cơ thể khi làm việc, nhất là công việc phải bê vác, kéo, nâng vật nặng. Tư thế lúc nghỉ cũng phải đảm bảo đúng, tránh tư thế nửa nằm, nửa ngồi, gối đầu cao quá lâu.
Thường xuyên và duy trì đều đặn việc tập luyện thể dục thể thao ở mức phù hợp với bản thân mỗi người, tránh tập luyện quá sức. Cung cấp đủ thành phần dinh dưỡng, nước uống nhằm đảm bảo năng lượng cho cơ thể.
Ngoài ra, mỗi người cũng nên đi khám và tư vấn định kỳ để phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý nói chung, bệnh lý cơ xương khớp nói riêng.

Viêm khớp dạng thấp: Ba sai lầm dẫn đến tàn phế

Việc điều trị viêm khớp dạng thấp (VKDT) cần đúng lúc và đúng cách là hai yếu tố tối quan trọng, tuy nhiên, nhiều bệnh nhân vẫn xem thường những dấu hiệu ban đầu, tự ý sử dụng thuốc...

Viêm khớp dạng thấp là bệnh khớp mạn tính thường gặp nhất trong số các bệnh khớp viêm. Tại Việt Nam, nữ giới mắc bệnh này nhiều hơn nam giới theo tỉ lệ 3/1 và thường gặp nhất ở lứa tuổi từ 40-50 tuổi. 

Tuy không trực tiếp gây tử vong nhưng VKDT khiến bệnh nhân nhanh chóng bị tàn phế đi kèm nhiều biến chứng và giảm rõ rệt chất lượng sống.
Lạm dụng thuốc kháng viêm, giảm đau
Mục đích đầu tiên của điều trị VKDT là đạt được sự lui bệnh lâm sàng, giảm đau, giảm các triệu chứng khó chịu, ngăn ngừa các biến dạng và giữ gìn các chức năng bình thường của khớp, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Trước đây các loại thuốc như Diclofenac, Ibuprofen, Meloxicam, Celecoxib, Etoricoxib... hay corticoid là những loại thuốc chính được sử dụng để giảm đau và viêm tức thì. Tuy nhiên, các thuốc này thực tế chỉ làm giảm triệu chứng đau và viêm, các tổn thương khớp vẫn tiếp tục phát triển, bệnh vẫn tiến triển và dần dần trở nên tàn phế, cứ ngừng thuốc là khớp lại sưng đau. 
Đó là chưa nói đến những tác dụng phụ trong quá trình sử dụng thuốc như: viêm loét dạ dày, tá tràng, chảy máu dạ dày - ruột, thủng dạ dày - ruột...

Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam, nguyên Trưởng khoa Cơ Xương khớp BV Bạch Mai, việc điều trị những thuốc như vậy không thể giúp bệnh nhân "sống chung" với bệnh VKDT một cách nhẹ nhàng; ngược lại, trong trường hợp sau thời gian dài điều trị với thuốc, bệnh nhân phản ứng không tốt với chính những thuốc này thì hậu quả gây ra là không hề nhỏ.

Tự ý chọn lựa sản phẩm hỗ trợ
Hiện tại nhiều bệnh nhân khớp sử dụng một số sản phẩm gọi là thực phẩm chức năng được cho là có tác dụng tốt cho bệnh của họ. Trên thị trường hiện có hàng trăm loại thực phẩm chức năng dành cho các bệnh lý khớp.

Tuy vậy, thực phẩm chức năng không phải là thuốc, không thay thế được thuốc, mà chỉ có tác dụng hỗ trợ cho thuốc. Người bệnh cần phải biết cách chọn lựa bằng cách tham vấn các thầy thuốc để có thể chọn một vài loại thích hợp cho bệnh lý của mình.

“Trên thực tế, số lượng bệnh nhân tự điều trị bệnh khớp khá là nhiều. Có rất nhiều người bệnh tin dùng một số loại thuốc được truyền miệng là chữa được bệnh khớp. 
Với bệnh nhân VKDT, việc tự ý dùng thuốc sẽ rất nguy hiểm thậm chí sẽ trầm trọng hơn khi cơ thể bệnh nhân không còn đáp ứng được với những loại thuốc điều trị hoặc có nhiều biến chứng không thể dùng được các thuốc điều trị VKDT”, PGS.TS.BS Lê Anh Thư, Phó Chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam, nguyên Trưởng Khoa Nội Cơ Xương Khớp BV Chợ Rẫy khẳng định.
Bỏ lỡ giai đoạn “cửa sổ cơ hội”
Khi thấy đau khớp, người bệnh thường coi đó chỉ là các hiện tượng nhức mỏi khớp thông thường, do thời tiết, do lao động nặng... mà không đi khám để được phát hiện bệnh kịp thời. Chính điều này làm cho cơ hội có thể can thiệp điều trị nhằm bảo toàn chức năng vận động của khớp bị bỏ qua, khiến khớp đã bị hủy hoại nặng thì dù có được điều trị tích cực cũng khó lòng phục hồi chức năng vận động của khớp.

VKDT là một bệnh chưa được chữa khỏi hoàn toàn, và có một giai đoạn khi khớp chưa bị tổn thương, được coi là “cửa sổ cơ hội” để có thể can thiệp, phòng tránh các tổn thương hủy khớp, dính khớp, mất chức năng vận động của khớp. 

Với việc điều trị sớm bằng các thuốc như methotrexat kết hợp thuốc điều trị sinh học như Tocilizumab sẽ giúp kiểm soát được bệnh, và đây là cách duy nhất để tránh tổn thương khớp không hồi phục, cải thiện triệu chứng, hạn chế tàn phế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Các thuốc này nói chung khá an toàn nếu được theo dõi, quản lý tốt.

Bệnh xương bánh chè hai mảnh có gì lạ?

Sau khi bị chấn thương, tai nạn, va đập mà có các biểu hiện nghi ngờ, cần đến cơ sở y tế chuyên khoa xương khớp để được khám và đánh giá đúng mức tổn thương.

Bệnh lý xương bánh chè hai mảnh khá hiếm gặp với đa số các trường hợp được phát hiện tình cờ. Thông thường, tổn thương này không có triệu chứng, tuy nhiên, một số trường hợp có thể gây đau do vận động quá mức của khớp gối. Phần lớn các trường hợp này có thể kiểm soát bằng điều trị nội khoa, một số trường hợp không đáp ứng với điều trị nội khoa thì phẫu thuật có thể được thực hiện.
Một trường hợp đặc biệt
Theo lời kể của bệnh nhân, cách đây 3 tháng, trong khi chơi thể thao, bệnh nhân có ngã khuỵu chân nhưng không đập gối xuống đất, sau đó xuất hiện đau và sưng gối, tự sơ cứu bằng băng chun, chườm đá, thuốc giảm đau, nghỉ ngơi, hạn chế vận động. Triệu chứng cải thiện dần và hết sau 3 tuần, bệnh nhân trở lại chơi thể thao nhưng triệu chứng đau và sưng nề xuất hiện trở lại ngay. Bệnh nhân tới khám tại phòng khám chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Chẩn đoán vỡ cực trên ngoài xương bánh chè. Điều trị bảo tồn với việc sử dụng nẹp gối dài, thuốc kháng sinh, giảm đau, giảm nề, canxi. Sau 4 tuần, bệnh nhân tháo nẹp, tập đi nhẹ. Tuy nhiên, tình trạng đau và tràn dịch gối lại xuất hiện. Bệnh nhân tái khám, được chỉ định chụp phim cộng hưởng từ thấy có tổn thương cực trên ngoài, nhiều khả năng là thương tổn xương bánh chè hai mảnh, đã phẫu thuật lấy bỏ mảnh xương phụ. Sau mổ, bệnh nhân được đeo nẹp gối dài để bất động khớp gối trong 2 tuần, sau đó bắt đầu tập gấp gối nhẹ tăng dần, tập luyện thể thao trở lại sau 6 tuần. Khám lại sau 3 tháng, khả năng gấp gối của bệnh nhân hoàn toàn bình thường, không đau, không hạn chế vận động khi chạy, đi xe đạp...
Bệnh xương bánh chè hai mảnh có gì lạ? 1
 Hình ảnh vị trí xương bánh chè trên phim Xquang
Thế nào là tổn thương xương bánh chè hai mảnh?
Tổn thương xương bánh chè hai mảnh xuất hiện khi điểm cốt hóa phụ của xương bánh chè không liền với xương bánh chè chính, gặp ở giai đoạn phát triển xương tuổi thiếu niên. Tỷ lệ gặp tổn thương này khoảng 2% và 50% các trường hợp bệnh nhân bị cả hai bên. Đa số các trường hợp bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng mà chỉ tình cờ phát hiện qua chụp phim thường quy khớp gối.
Biểu hiện tổn thương
Triệu chứng đau do xương bánh chè hai mảnh thường xuất hiện theo 1 trong 2 cách: tiến triển từ từ hoặc là đột ngột sau chấn thương. Đau thường khu trú ở cực trên ngoài của bánh chè tương ứng với vị trí của mảnh xương phụ, đau thường tăng lên khi vận động và ảnh hưởng đến vận động thường kèm theo sưng nề quanh vị trí xương phụ. Tràn dịch gối rất hiếm gặp, nếu có thường phải loại trừ các tổn thương trong khớp kèm theo. Ở những bệnh nhân có triệu chứng kéo dài, tình trạng teo cơ đùi thường xảy ra và kèm theo là hạn chế duỗi gối chủ động.
Chẩn đoán và điều trị thế nào?
Chụp Xquang, chụp cộng hưởng từ có giá trị vì ngoài việc chẩn đoán xác định tổn thương còn loại trừ các tổn thương trong khớp khác khi có tràn dịch khớp gối kèm theo.
Khi được xác định chẩn đoán xương bánh chè hai mảnh, việc điều trị bảo tồn vẫn có hiệu quả với việc sử dụng nẹp gối, giảm vận động, thuốc giảm đau đường uống và có thể dùng corticoid tiêm tại chỗ. Chỉ định phẫu thuật thường đặt ra khi đáp ứng kém với điều trị bảo tồn hoặc là giảm khả năng vận động của bệnh nhân sau điều trị.
Lời khuyên của bác sĩ
Tổn thương xương bánh chè hai mảnh khá hiếm gặp. Vì vậy, sau khi bị chấn thương, tai nạn, va đập mà có các biểu hiện nghi ngờ, cần đến cơ sở y tế chuyên khoa xương khớp để được khám và đánh giá đúng mức tổn thương.   

Hiểu đúng để phòng ngừa bệnh xốp xương

Để phòng ngừa bệnh xốp xương, quan trọng là thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, hoạt động thể lực đều đặn và phơi nắng.

Xương của chúng ta có cấu tạo tương tự như các cột trụ bê tông cốt sắt, bao gồm 2 phần chính là khung hữu cơ và chất vô cơ. Nhờ cấu trúc này mà xương chúng ta khỏe mạnh và bền vững. Trong bệnh loãng xương có sự suy giảm mật dộ xương và tổn thương vi cấu trúc của xương, tức là có sự hủy hoại của các cấu trúc hữu cơ và vô cơ của xương. Kết quả là sức mạnh của xương bị giảm, làm cho xương dễ bị gãy. Có tới 1/5 phụ nữ và 1/8 nam giới sau tuổi 50 bị xốp xương.
Xốp xương là gì?
Trong xương xuất hiện nhiều các hốc xương do các bè xương bị đứt gãy làm cho xương trở nên xốp hơn. Chính vì vậy mà bệnh còn có tên gọi là bệnh xốp xương. Các khoáng chất như canxi, phospho cũng bị rửa trôi đi, hàm lượng chất khoáng trong xương giảm đi, xương trở nên nhẹ hơn. Do vậy, bệnh có tên là loãng xương.
Ai có nguy cơ xốp xương?
Có 5 đối tượng có nguy cơ mắc bệnh xốp xương cao. Thứ nhất là những người có tiền sử gia đình có bố mẹ bị xốp xương. Thứ hai là người cao tuổi (cả nam và nữ trên 70 tuổi), nữ giới từ 55 tuổi trở lên, phụ nữ mãn kinh sớm, sinh trên 3 con. Thứ ba là những người thấp bé, nhẹ cân, có tư thế, dáng vóc bất thường, đặc biệt khi họ lại không được cung cấp đủ canxi và vitamin D, nghiện thuốc lá, rượu. Thứ tư là những người có nghề nghiệp tĩnh tại, không tập luyện thể dục thể thao. Thứ năm là các bệnh nhân mắc một số bệnh lý có thể gây loãng xương như cường giáp, đái tháo đường, cắt buồng trứng, cắt dạ dày- ruột, suy thận. Đặc biệt, một số bệnh nhân phải sử dụng thuốc kéo dài mà một số thuốc có thể gây loãng xương như corticosteroid, thuốc lợi tiểu, thuốc chống động kinh.
Hiểu đúng để phòng ngừa bệnh xốp xương 1
Khi các bè xương bị đứt gãy làm xương trở nên xốp hơn
Cách nào nhận biết?
Có 3 dấu hiệu lâm sàng gợi ý xốp xương là thay đổi hình dáng cơ thể, đau lưng và gãy xương. Thay đổi hình dáng cơ thể (gù, vẹo, giảm chiều cao). Biểu hiện đau lưng (đau thắt lưng cấp tính và đau thắt lưng mạn tính). Đau xuất hiện tự nhiên; sau chấn thương nhỏ, thường khỏi sau vài tuần. Đau thắt lưng mạn tính kèm theo biến dạng cột sống, biểu hiện bằng đau thắt lưng kéo dài, có những đợt đau cấp tính rồi lại khỏi, kèm theo các thay đổi tư thế cột sống như gù, vẹo cột sống. Có người cong gập lưng khiến cho các xương sườn cọ sát vào cánh chậu. Biểu hiện nặng nhất của xốp xương là gãy xương: lún xẹp thân đốt sống, gãy chỏm xương đùi, gãy đầu dưới xương cẳng tay, xương sườn, xương chậu, phần lớn là ở phụ nữ.
Lời khuyên của thầy thuốc
Để phòng ngừa bệnh xốp xương, quan trọng là thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, hoạt động thể lực đều đặn và phơi nắng.
Chế độ ăn uống: ăn đủ đạm, calori. Bạn cần khoảng 50gr protein mỗi ngày, tương đương với 1 lạng cá biển, 2 cốc sữa chua ít béo và 1 quả trứng. Cần hạn chế chất béo trong khẩu phần ăn vì cholesterol tăng phá hủy xương. Cần đảm bảo đủ canxi, vitamin D. Một ngày, cơ thể cần 1.000mg canxi (người ở độ tuổi từ 19 - 50), 400-800 đơn vị vitamin D và lượng nhỏ magiê, vitamin K hàng ngày để giúp xương chắc khỏe. Canxi có thể cung cấp từ thức ăn hay bổ sung từ sữa hay thuốc chứa canxi. Các thực phẩm hàng ngày như tôm, tép, cua, cá chứa nhiều canxi. Tốt nhất là ăn cá kho nhừ cả xương. Các loại rau muống, rau dền, rau bí, măng khô, đậu nành, súp-lơ đều giàu canxi. Sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa (bơ, phomat, sữa chua...), trứng là nguồn cung cấp canxi quan trọng.
Nguồn vitamin D có thể từ phơi nắng, thức ăn và bổ sung. Thực phẩm giàu vitamin D như nấm tươi, sữa, trứng, cá hồi, trai, sò... Cần ăn rau quả là nguồn cung cấp magiê như rau lá xanh, các loại hạt và đậu. Thực phẩm giàu vitamin K là các loại rau có màu xanh đậm: súp-lơ xanh, bắp cải, cải xoắn. Nếu cần thiết, có thể bổ sung mỗi ngày 1 viên đa sinh tố chứa magiê, vitamin K, acid folic, vitamin B6 và B12. Ngoài ra, nên ăn nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen tự nhiên như giá đỗ, đậu nành, lạc, vừng, bắp cải, tỏi... vì chúng làm tăng khoáng chất trong xương.
Về chế độ hoạt động thể lực, cần tập thể dục đều đặn. Tập thái cực quyền cũng làm tăng tính mềm dẻo cơ bắp, giảm nguy cơ ngã gãy xương. Ngoài ra, nên bỏ rượu, thuốc.

Xử lý trật khớp

Trật khớp thường xảy ra sau một chấn thương hay vận động mạnh, đột ngột làm cho đầu xương bị đẩy lệch khỏi vị trí bình thường của khớp. Trật khớp có thể ở khớp háng, khớp gối, khớp khuỷu, khớp vai hoặc ở các khớp nhỏ như các khớp ngón chân, ngón tay... Triệu chứng trật khớp thường là: đau tại chỗ hoặc gần chỗ trật khớp, sưng, phù nề tại khớp, khó hoặc không thể cử động được, biến dạng khớp.
Xử lý khi bị trật khớp: khi bị trật khớp, không nên cố gắng cử động khớp vì có thể gây tổn thương khớp, phần mềm, các dây chằng, mạch máu, thần kinh quanh khớp. Cố định tạm thời khớp bị trật ở tư thế mà khớp đang ở vị trí đó. 
Chẳng hạn trật khớp khuỷu, bệnh nhân sẽ có tư thế gấp khuỷu, người sơ cứu dùng một miếng vải hay cái khăn, cái áo cố định khuỷu vào thân người. Cách thông dụng nhất là trật khớp tay có thể cố định bằng cách cột tay vào thân người; trật khớp ở chân thì có thể cột hai chân lại với nhau, dùng chân lành làm nẹp cố định cho chân bị thương. 
Đừng cố gắng nắn khớp. Nên dùng đá lạnh chườm lên vùng khớp tổn thương trong 10 - 15 phút để giúp giảm phù nề quanh khớp tổn thương, sau đó dùng băng cuộn hay vải ép khớp lại rồi đưa người bị thương đến cơ sở y tế gần nhất để điều trị.

Những bệnh cơ xương khớp ở trẻ cần đặc biệt lưu ý

Cha mẹ không nên chủ quan khi trẻ bị đau khớp gối, khớp háng hay đau cột sống dai dẳng.

Theo TS Phạm Quang Thuận, Trưởng khoa Nội cơ xương khớp BV Thể thao Việt Nam, có nhiều bệnh lý cơ xương khớp ở trẻ em cha mẹ cần đặc biệt lưu ý để tránh biến chứng nguy hiểm về sau:
1. Đau cơ, đau xương phát triển
Đây là loại bệnh cơ xương khớp rất hay gặp ở trẻ em, phổ biến ở trẻ từ 6 đến 12 tuổi. Bệnh tiến triển là do trẻ hoạt động quá mức hoặc lớn quá nhanh, xương phát triển chậm không theo kịp sự phát triển của cơ bắp. Biểu hiện của bệnh là đau chân dai dẳng, khó cử động. Trẻ thường đau vào buổi tối sau một ngày hoạt động.
Trẻ từ 12 đến 16 tuổi cũng thường xuyên mắc bệnhOsgood-Schlatter gây sưng đau ở vùng lồi củ trên xương chày, ngay dưới xương bánh chè, do vận động khớp quá mức.Bệnh gây viêm xương chày ngay phía dưới đầu gối, chỗ dây chằng rộng gắn vào. Dấu hiệu đặc trưng gồm căng cơ, đau và sưng ngay bên dưới gối và thường đau nhức hơn khi cử động.
Nếu đã bị bệnh, trẻ cần ngưng tất cả hoạt động thể lực cho đến khi khớp gối lành hẳn, trường hợp đau ít có thể tiếp tục vận động nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Bệnh Osgood-Schlatter chỉ là tạm thời, và sẽ hết đau sau khi xương trẻ ngừng tăng trưởng ở độ tuổi trưởng thành.
2. Thấp khớp
Bệnh thấp khớp thường gặp ở trẻ 5-15 tuổi, bệnh phát triển mạnh vào mùa đông, hoặc mỗi khi thay đổi thời tiết.
Bệnh thường khởi đầu bằng viêm họng đỏ cấp tính, sốt và đau họng. Sau 7-10 ngày bệnh nhân có thể sốt cao, mệt mỏi, xanh xao, sưng, nóng đỏ và đau các khớp lớn như khớp vai, háng... kéo dài chừng 5-7 ngày rồi khỏi, không để lại di chứng gì.
Khi đã có chẩn đoán thấp khớp cấp, trẻ phải được điều trị phòng thấp để ngăn chặn sự tái phát và tránh tổn thương tim mạch.
kham1-9448-1384245649.jpg
BS Phạm Quang Thuận xem xét tình hình cơ xương khớp của bệnh nhân. Ảnh:Lê Anh
3. Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi
Bệnh này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, là nguyên nhân hay gặp nhất trong các bệnh lý khớp háng.
Cơ chế gây hoại tử chỏm xương đùi thường do thiếu máu nuôi dưỡng sau gãy cổ xương đùi di lệch hoặc trật khớp háng; tắc nghẽn mạch do trật khớp háng, tăng áp lực trong xương, nhiễm độc... Ngoài ra, các yếu tố thuận lợi khiến bệnh tiến triển có thể kể đến như dùng Steroid dài ngày, nghiện rượu, thuốc lá, mắc bệnh gan, thận mãn tính...
Tùy vào từng trường hợp mà các bác sĩ cho dùng thuốc, kích thích điện hay tiến hành khoan giảm áp, ghép xương, đục xương sửa trục... Khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, các bác sĩ sẽ phải thay khớp háng nhân tạo giúp người bệnh hết đau, cải thiện chức năng khớp háng, đi lại, vận động tốt.
4. Viêm cột sống dính khớp
Trẻ từ 8 đến 15 tuổi rất dễ mắc phải loại bệnh này. Biểu hiện của bệnh là đau cột sống lưng, lưng cứng, hạn chế vận động, đi lại khó khăn. Người bệnh sốt, gầy sút, mệt mỏi. Khi bệnh đã rõ, cột sống thắt lưng đau nhiều, tình trạng đau thường nặng về đêm, cứng cột sống, nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy.
Khi thấy trẻ có những biểu hiện này nên đưa đi khám tại các chuyên khoa xương khớp để bác sĩ ra phác đồ điều trị càng sớm càng tốt. Bệnh diễn biến kéo dài có thể có những tổn thương nội tạng kèm theo. Sau một thời gian toàn bộ cột sống dính không còn khả năng vận động, bệnh nhân có thể bị gù, vẹo cột sống, không đứng thẳng, không ngồi xổm được. Bệnh còn có thể gây ra những biến chứng như suy hô hấp, tâm phế mãn, lao phổi, liệt hai chi dưới.
Ở giai đoạn sớm của bệnh, các bác sĩ có thể cho bệnh nhân dùng thuốc kết hợp với các biện pháp vật lý trị liệu nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến vận động của cột sống và khớp. Khi bệnh đã phát triển quá nặng, bên cạnh các điều trị nội khoa và vật lý trị liệu, phẫu thuật là biện pháp có thể cải thiện được về chức năng và hình thái của người bệnh.
5. Biến dạng cột sống (học đường)
Thường xảy ra ở trẻ trong độ tuổi cắp sách tới trường. Nguyên nhân có thể do trẻ đeo ba lô quá nặng, ngồi học không đúng tư thế...
Biểu hiện của bệnh rất dễ phát hiện như đi lệch về một bên, ngồi xiên xẹo, thường xuyên nhức mỏi lưng.
Cha mẹ nên quan tâm đến tư thế ngồi học của con và không cho chúng mang vác quá nhiều đồ nặng trên vai tránh trẻ bị biến dạng cột sống, tạo dáng đi xấu sau này.Trẻ bị biến dạng cột sống có thể sẽ phải nẹp đai cột sống để lấy lại dáng lưng thẳng.

Chuột rút- chứng bệnh gây khó chịu

Chuột rút hay còn gọi là vọp bẻ là tình trạng co thắt cơ đột ngột, gây đau dữ dội ở một bắp thịt, làm cho bệnh nhân không tiếp tục cử động được nữa.





Chuột rút- chứng bệnh gây khó chịu 1
Chuột rút hay gặp ở người chơi thể thao
Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến chuột rút. Nguyên nhân thứ nhất là thiếu ôxy đến cơ do tập luyện thể thao với cường độ cao, đứng lâu trên nền cứng. Nguyên nhân thứ hai là thiếu nước và các chất điện giải như canxi, kali... Do đó, những nhóm người hay bị chuột rút là vận động viên thể thao, thanh niên, phụ nữ mang thai. Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như do thuốc, do bệnh lý…
Một số thuốc cũng có thể gây chuột rút như: thuốc ngừa thai, lợi tiểu, thuốc hạ mỡ máu nhóm statin và clofirate, thuốc chống trầm cảm, hạ huyết áp nifedipine, thuốc chống viêm dạ dày như cimetidine, thuốc giãn phế quản…
Nếu hay bị chuột rút khi ngủ, bệnh nhân có thể làm những cách sau: thực hiện động tác như đạp xe đạp trước khi đi ngủ hay đặt một chiếc gối nhỏ dưới bắp chân và bàn chân. Tư thế ngủ này giúp tăng cường lưu thông mạch máu về đêm và do đó giúp hạn chế bị chuột rút.
Người bị chuột rút có thể áp dụng những cách sau:
+ Nếu bị ở bắp chân thì kéo chân ra, đồng thời ấn mạnh phần cuối của bắp chân trên một mặt phẳng cứng.
+ Nếu bị ở đùi, nhờ người khác dùng một tay đỡ gót chân để làm cho đầu gối của mình căng thẳng, còn một tay ấn đầu gối xuống dưới.
+ Nếu bị ở bàn chân thì cầm đầu bàn chân kéo nhẹ rồi đứng dậy và đứng thẳng người một lúc nhưng không cho gót chạm đất. Sau đó xoa bóp vùng bị chuột rút.
+ Nếu thỉnh thoảng bạn mới bị chuột rút, điều này không có gì đáng lo lắng. Tuy nhiên, nếu tần số bị chuột rút tăng lên hoặc bị chuột rút gây đau đớn, bạn cần đi khám bác sĩ. Những xét nghiệm sẽ cho biết liệu đó có phải là dấu hiệu của một số căn bệnh mãn tính như đau khớp, suy tĩnh mạch, bệnh lý tuyến cận giáp hay rối loạn thần kinh thực vật hay không.