Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Trị đau nhức và cứng khớp trong mùa rét

Sang mùa rét năm nay cẳng tay phải của tôi rất đau, cảm giác đau cả phần cơ và phần xương, nhất là khớp khuỷu tay, cầm vật gì nặng cũng hơi khó. Trời càng rét thì càng đau. Đầu gối chân phải cũng có cảm giác như vậy, tôi chỉ đi từ cơ quan về nhà khoảng 4km, là cảm thấy cứng khớp gối và rất đau nhức. Tôi chưa dùng thuốc gì, mong bác sĩ tư vấn giúp.
Nguyễn Thanh Sơn (Phú Thọ)
Thông thường, khi vào mùa lạnh, chúng ta thường có cảm giác khó chịu ở các khớp xương nhiều hơn, đó là do các màng hoạt dịch và sụn khớp bị kích thích, vì vậy các triệu chứng của các bệnh thường biểu hiện rõ ràng hơn. Các khó chịu tại khớp có thể từ mức độ nhẹ là một viêm khớp không đặc hiệu cho đến các bệnh lý thực thể như viêm khớp dạng thấp hay viêm khớp do thoái hóa khớp. Về cơ bản, các bác sĩ sẽ khám, có thể cho làm các thăm khám để xác định triệu chứng đau khớp của bạn là do tổn thương thực thể hay chỉ là do viêm khớp phản ứng. Về phòng bệnh, dù bạn có bệnh lý khớp từ trước hay không, trong mùa lạnh, bạn cũng cần giữ ấm cơ thể mình, trong đó đặc biệt lưu ý các khớp.  Với các triệu chứng mà bạn nêu trên, việc thăm khám bác sĩ để có được tư vấn không chỉ trong vấn đề sử dụng thuốc mà còn trong việc giữ gìn, phòng ngừa bệnh khớp trong mùa lạnh.
ThS. Trần Trung Dũng

Xử lý gãy mỏm khuỷu?

Con tôi bị ngã, đau khuỷu tay phải, đi khám thì bị gãy mỏm khuỷu, phải bó bột. Mong bác sĩ tư vấn rõ về căn bệnh này?  Sau tháo bột liệu tay cháu có liền tốt hay có di chứng gì không? Vì nghe nói có trường hợp phải phẫu thuật?

Mai Ngọc Anh (Quảng Trị)

Mỏm khuỷu là phần đầu trên của xương trụ, cùng với mỏm vẹt tạo thành hõm Zigma lớn ở khuỷu tay. Gãy mỏm khuỷu là gãy xương phạm khớp. Có thể có di lệch do tác động của cơ tam đầu cánh tay. Nguyên nhân trực tiếp thường do ngã đập khuỷu xuống đất, hoặc bị đánh vào mỏm khuỷu; nguyên nhân gián tiếp do gấp khuỷu đột ngột, mạnh. Triệu chứng: sau chấn thương bệnh nhân thấy đau chói mỏm khuỷu; hạn chế động tác duỗi khớp khuỷu, không duỗi được cẳng tay hoàn toàn; giãn cách giữa hai đầu gãy; di động đoạn trung tâm; Chụp Xquang thẳng nghiêng thấy hình ảnh gãy mỏm khuỷu. Điều trị bảo tồn bằng phương pháp bó bột, nếu gãy mỏm khuỷu ít di lệch, giãn cách hai đầu gãy dưới 2mm. Phẫu thuật khi gãy xương có di lệch, kết hợp xương bằng néo ép số 8, bắt vít.
BS. Trần Văn Phong

Viêm quanh khớp vai chữa thế nào?

Tôi năm nay 32 tuổi, mấy tháng nay thường xuyên bị đau vùng khớp vai, rất khó vận động. Tôi thường xuyên dùng cao dán, xoa bóp nhưng không mấy thuyên giảm, bệnh thường đau tăng khi trời lạnh. Xin hỏi bác sĩ có phải tôi bị viêm quanh khớp vai không? Phải chữa trị thế nào?
Trần Thị Tú Châu (Hà  Nội)
 Hình ảnh viêm quanh khớp vai trên phim Xquang.
Viêm quanh khớp vai là một bệnh hay gặp ở lứa tuổi trung niên và người cao tuổi, ở cả hai giới. Viêm quanh khớp vai là chỉ các thương tổn phần mềm quanh khớp như cơ, gân, bao gân, dây chằng, thần kinh, mạch máu... Đau khớp vai có rất nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân ở tại khớp vai (bao gồm các tổn thương xương, khớp vai, phần mềm quanh khớp vai); có những nguyên nhân khác ở ngoài khớp vai cũng gây đau vai đặc biệt là u đỉnh phổi, thiểu năng vành.. Đây là những nguyên nhân cần phải lưu ý, tránh bỏ sót, gây hậu quả đáng tiếc.
Điều trị viêm quanh khớp vai tuỳ thuộc vào từng thể bệnh khác nhau;  thường phối hợp nhiều biện pháp như phục hồi chức năng khớp bằng các bài tập vận động, xoa bóp, bấm huyệt, chiếu tia hồng ngoại sóng ngắn. Các thuốc hay dùng là thuốc giảm đau đơn thuần paracetamol và/hoặc thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAID) như diclofenac, meloxicam...; thuốc giãn cơ (mydocalm, myonal). Một số trường hợp tiêm thuốc glucocorticoid khớp vai, bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai; điểm bám gân cho kết quả rất tốt nhưng lưu ý phải theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và trong điều kiện vô khuẩn; tránh biến chứng nhiễm khuẩn và không được lạm dụng (quá liều, quá nhiều lần) gây nhiều biến chứng khác như teo cơ, loãng xương... Chụp khớp cản quang và nong khớp là các kỹ thuật được chỉ định cho khớp vai thể đông cứng; đây vừa là kỹ thuật để chẩn đoán xác định bệnh vừa để điều trị bệnh thông qua giải phóng bao khớp bị dính. Trong một số trường hợp, thể giả liệt do đứt gân các cơ xoay vai, ở người đòi hỏi mức độ vận động cao (vận động viên) có thể phẫu thuật để phụ hồi gân. Gần đây kỹ thuật phẫu thuật nội soi khớp vai để tạo hình mỏm cùng vai, mở rộng bao khớp, nối gân... đã được tiến hành ở một số bệnh viện trong nước và cho kết quả tốt. Trong trường hợp của chị cần đi khám để xác định nguyên nhân bệnh từ đó mới có chỉ định điều trị phù hợp.
TS. Đào Hùng Hạnh

Giày cao gót đe dọa sức khỏe đôi chân

Nguy cơ do đi giày cao gót thường xuyên
Đi giày cao gót sẽ làm vóc dáng đẹp, hấp dẫn, gợi cảm hơn. Bạn có cảm giác tự tin hơn khi chiều cao của phụ nữ Việt vốn khiêm tốn lại được chắp cánh. Thêm nữa chủ nhân của những đôi giày cao gót của các hãng nổi tiếng còn có điều kiện để phô bày sự giàu có của mình. Phụ nữ thường mang giày cao gót khi đi chơi, đi dancing hay đi làm. Tuy nhiên thường xuyên đi giày cao gót là nguyên nhân gây đau khớp chân. Xét về mặt lịch sử, việc đi trên đôi chân của mình là kết quả của quá trình tiến hóa để tạo thành con người, khi mà với dáng đứng thẳng, hai chi trước có thể giải phóng và trở thành công cụ làm việc. Tuy nhiên, chính dáng đứng thẳng cũng là một nguy cơ đối với các khớp chi dưới và cột sống khi các cấu trúc này phải hứng chịu trọng lượng của chính cơ thể. Ngoài ra khi lao động, mang vác vật nặng thì cơ thể lại phải chịu những tải trọng bổ sung, dễ dẫn đến tổn thương cơ xương khớp. Nhưng cơ thể lại có những cơ cấu thích nghi với điều kiện mới. Bàn chân có cấu trúc vòm khiến trọng lượng cơ thể được phân bố đều trên cả diện tích bàn chân. Tuy nhiên khi dùng giày cao gót, cơ chế vòm của bàn chân bị phá vỡ. Giày cao gót thường có sự chênh lệch đáng kể độ cao giữa đế giày và mũi giày. Khi đi giày cao gót thì gót chân ở vị trí cao hơn đáng kể so với mũi bàn chân, do vậy gót chân phải trực tiếp chịu sức nặng của cơ thể. Mô mềm gan bàn chân vốn có tác dụng như một giảm xóc cũng không chịu được tải trọng quá lớn, bị chấn thương kéo dài. Dần dần mọc gai xương gót, có thể làm tổn thương vùng gót chân bị tăng lên đáng kể. Mũi bàn chân là một phần phải chịu lực thứ hai sau cổ chân, lại bị bó hẹp do mũi giày nhọn ở đầu. Phần mũi bàn chân, đến lượt mình cũng phải hứng chịu phần đáng kể trọng lượng cơ thể, dẫn đến tình trạng thoái hóa sớm các khớp bàn chân, ngón chân và biến dạng khớp, đặc biệt là ngón chân cái bị trẹo ra ngoài, còn các ngón chân khác cũng bị biến dạng, thoái hóa ở các mức độ khác nhau. Bàn chân sưng phù do máu dồn về đôi chân gây cảm giác đau đớn, khó chịu. Như vậy đi giày cao gót có thể gây phù, đau và biến dạng bàn chân, lỏng lẻo khớp cổ chân hay khớp cổ chân bị thoái hóa sớm, mọc gai xương gót. Mức độ tổn thương đôi chân phụ thuộc vào loại giày cao gót cũng như thời gian đi giày. Việc thường xuyên đi giày cao gót hoặc đi giày cao gót trong thời gian quá dài là nguyên nhân chủ yếu gia tăng mức độ tổn thương đôi chân. Mức độ tổn thương còn phụ thuộc cả vào cách thức sử dụng giày. Khi đi trên đường mấp mô hay bước hụt thì người chủ giày cao gót dễ dàng mất thăng bằng, trọng tâm lệch khỏi chân đế, dẫn đến phản xạ uốn lượn người để giữ thăng bằng, tương tự như động tác của diễn viên xiếc đi trên dây. Điều đó làm tăng tải trọng đột ngột lên các khớp. Gân cơ, dây chằng khớp cũng phải làm việc hết sức vất vả. Điều đó đẩy nhanh quá trình chấn thương chi dưới.
 Tổn thương trật khớp cổ chân gãy xương cẳng chân.
Lời khuyên
Để hạn chế bớt các tác hại của giày cao gót đối với sức khỏe đôi chân, bạn nên hạn chế tối đa việc đi giày quá cao. Chỉ đi giày cao gót trong thời gian ngắn trong các dịp lễ hội, tiếp đón chính thức, long trọng, đi đường ngắn và phẳng. Còn khi đến cơ quan làm việc, bạn nên đi giày mềm hay dép. Không chọn giày quá chật mà nên chọn giày có độ ôm vừa phải, khi đi có cảm giác dễ chịu. Cần chọn những đôi giày làm từ các chất liệu tự nhiên, mềm mại để không gây cọ xát và kích ứng cho vùng da chân. Phần đế giày không quá nhọn và dốc so với mũi giày. Chiều cao thích hợp của đế giày là từ 2 - 4cm, đường kính từ 3 - 5cm. Ngoài ra bạn cũng cần chăm sóc đôi chân hàng ngày như ngâm chân nước ấm có pha thêm chút muối, mát xa chân.    
Triệu chứng của tổn thương cơ xương khớp do giày cao gót
        Có hai loại tổn thương cơ xương khớp do giày cao gót là các tổn thương cấp tính và tổn thương mạn tính. Tổn thương cấp tính có thể xảy ra nhanh chóng như là một tai nạn do đi giày cao gót, khi bước hụt hay bị ngã. Khi đó người đi giày cao gót có thể bị bong gân, trật khớp, giãn dây chằng hay nặng hơn là ngã gãy xương. Tổn thương mạn tính cơ xương khớp vùng chi dưới xảy ra khi đi giày cao gót trong thời gian dài. Khi đó, tổn thương thường chỉ ở mức độ nhẹ, trong đó các khớp chi dưới hay gân cơ, dây chằng phải hứng chịu các vi chấn thương kéo dài. Tuy nhiên, theo thời gian, các vi chấn thương như vậy tích lũy lại, dẫn đến xuất hiện một số bệnh lý mạn tính như thoái hóa khớp, mọc gai xương, lỏng lẻo khớp. Người đi giày cao gót thường phàn nàn về các triệu chứng như đau nhức các khớp chi dưới, sưng hai bàn chân, đi lại, đứng lên hay ngồi xuống khó khăn. Dần dần xảy ra biến dạng bàn chân.
       Do bàn chân là một phần phải chịu lực thứ hai sau cổ chân, lại bị bó hẹp do mũi giày nhọn ở đầu, kết quả là ngón chân cái bị trẹo ra ngoài, còn các ngón chân khác cũng dễ bị thoái hóa sớm. Bàn chân sưng phù do máu dồn về đôi chân gây cảm giác đau đớn, khó chịu. Nếu lại có thêm một số yếu tố nguy cơ khác thì quá trình thoái hóa xương khớp ngày càng được đẩy nhanh hơn. Đó là tình trạng béo phì, hút thuốc lá, hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi phải đứng hay đi nhiều, dị dạng phát triển xương khớp hay một số bệnh khớp từ trước đó.
 

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc(Khoa Khớp - BV Bạch Mai)

Đề phòng tổn thương khớp gối

Đầu gối rất dễ bị chấn thương vì phải chịu sức nặng cơ thể trong khi lao động, chạy nhảy, đi lại. Động tác chủ yếu của khớp gối là gập và duỗi, còn cử động sang bên hoặc quay thì rất hạn chế. Vì vậy khớp gối dễ bị tổn thương bởi những chấn thương từ hai bên hay từ phía trước hoặc do vặn xoay. Tuy nhiên nếu biết bảo vệ, bạn sẽ có khớp gối chắc khỏe và giữ được vẻ đẹp của hai đầu gối.
 Bảo vệ khớp gối
Tổn thương hay gặp ở khớp gối
Đau đầu gối: sau một chấn thương đầu gối bạn bị đau. Có khi người bệnh mô tả là đau buốt "đến tận tim", hay đau "điếng người". Dĩ nhiên là bạn phải xoa dầu và uống thuốc mới mong khỏi được sớm.
Lỏng khớp gối: là một chấn thương hay gặp trong thể thao, khi dây chằng chéo trước bị tổn thương, khớp gối sẽ lỏng. Nhưng lúc mới chấn thương, do cơ đùi hỗ trợ nên bạn chưa cảm nhận được bị lỏng gối. Thời gian sau cơ đùi bị teo không còn đủ sức gồng gánh cho dây chằng chéo trước, các dấu hiệu của lỏng gối mới xuất hiện. Bạn sẽ cảm thấy chân bị yếu khi đi lại, khó khăn khi phải đứng trụ bằng chân bị bệnh, đi nhanh trên đường không bằng phẳng dễ bị trẹo gối, cảm giác bất thường khi lên xuống cầu thang, khó điều khiển chân mình như ý muốn.
Trật khớp gối: nếu chấn thương mạnh bạn có thể bị trật khớp gối với các biểu hiện đau, không cử động được khớp gối, biến dạng khớp gối. Tổn thương có thể làm gãy xương, vỡ sụn, rách bao hoạt dịch, đứt rách dây chằng... Khi đó bạn phải điều trị tại bệnh viện bằng cách nắn chỉnh, phẫu thuật phục hồi khớp và dùng thuốc giảm đau, chống viêm.
 Viêm khớp: có thể do các nguyên nhân chấn thương, nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn, bệnh tự miễn gây ra. Khớp gối bị sưng, nóng, đỏ đau, hạn chế vận động. Tùy nguyên nhân mà bạn phải điều trị bằng thuốc chống viêm, kháng sinh...
 Thoái hóa khớp gối: là tình trạng lão hóa của khớp. Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết... Mức độ lão hóa từng người có khác nhau, tùy thuộc điều kiện sống của mỗi người. Ba triệu chứng thường gặp ở bệnh thoái hóa khớp gối là đau khớp, sưng khớp và hạn chế cử động. Điều trị cần dùng các loại thuốc: giảm đau, chống viêm; bổ sung chất nhày cho khớp; thuốc tăng dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin; các thuốc bôi, xoa ngoài; các thuốc bổ gân, xương.
Tổn thương khớp gối trên phim Xquang.
Chăm sóc đầu gối
Đầu gối quan trọng đối với sức khỏe và cả thẩm mĩ nên chúng ta cần phải biết cách chăm sóc để bảo vệ "sức khỏe" và vẻ đẹp cho đầu gối. Chúng tôi xin chia sẻ với các bạn những "bí quyết" sau đây: 
Do đầu gối chỉ được che phủ bằng một lớp da, thiếu sự bảo vệ của bắp cơ và mỡ, nên không được cung cấp đầy đủ nhiệt trong điều kiện thời tiết lạnh giá của mùa đông. Vì vậy chúng ta cần giữ ấm cho đầu gối bằng cách mặc quần dài với chất liệu vải thun hay cotton dày, đi giầy tất để thường xuyên giữ ấm chân và đầu gối. 
Để phòng tránh khớp gối bị xơ cứng, bạn cần thường xuyên tập cử động bằng các động tác như đứng lên, ngồi xuống, xoay tròn khớp gối theo chiều kim đồng hồ và ngược lại để đầu gối được tưới máu nuôi dưỡng đầy đủ, dịch khớp tiết đều đặn, giúp mọi hoạt động được nhịp nhàng. Buổi tối trước khi ngủ bạn có thể tập động tác duỗi gấp gối bằng cách ngồi tựa lưng ghế, kê một cái gối mềm cao chừng 10 - 15cm dưới khoeo chân, tập duỗi thẳng chân rồi lại hạ cẳng chân xuống ở tư thế vuông góc với đùi từ 15 - 20 lần. 
Trước khi luyện tập thể dục thể thao hay tập quân sự, bạn nhất thiết phải tập khởi động toàn thân và khớp gối để khi vận động cơ thể nói chung và khớp gối nói riêng được trơn tru, thuận lợi. Bạn không nên đá chân cao một cách đột ngột để tránh tổn thương khớp gối. Trong tập luyện một số môn thể thao dễ gây chấn thương, bạn nên bó khớp gối bằng băng thun để bảo vệ.
Bạn cũng nên tránh các tư thế gây hại cho khớp gối như: tránh ngồi gác chéo chân; bỏ thói quen ngồi xổm vì gập gối quá mức tạo lực ép rất lớn lên mặt sụn khớp và sụn bánh chè, mặt sụn dễ mòn, dập, sẽ thoái hóa sớm. Động tác quỳ gối hay tập cử tạ mà gánh tạ quá thấp cũng gây hại khớp gối nặng hơn ngồi xổm. Khuân vật nặng hay đứng lâu, khớp gối chịu lực không thẳng trục gây đau vùng trước gối và làm cho khớp gối nhanh bị thoái hóa.
Bạn chỉ nên đi giầy dép có đế rộng, độ cao vừa phải, khoảng 3cm. Nếu đi giầy dép cao gót sẽ tăng áp lực lên khớp gối. Tránh thừa cân, vì thừa 1kg thì khớp gối phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần. Nếu bạn bị dị dạng chi dưới như chân chữ O, chữ X cũng cần phẫu thuật chỉnh hình cho trục đầu gối được thẳng.
Khớp gối được tạo thành bởi 3 xương: xương đùi, xương chày và xương bánh chè. Giữa mặt khớp lồi cầu đùi - mâm chày có cấu trúc sụn gọi là sụn chêm. Sụn chêm nằm chêm giữa mặt sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày có tác dụng giảm sóc khi sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày tiếp xúc khi vận động và giữ cho khớp gối được vững vàng. Hệ thống dây chằng bên trong, bên ngoài và hai dây chằng chéo trước và chéo sau nhằm giữ cho khớp gối vững chắc. Dây chằng chéo trước có tác dụng chính là giữ không cho mâm chày trượt ra trước và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau. Dây chằng bên ngoài giúp gối không bị vẹo trong, dây chằng bên trong giúp cho gối không bị vẹo ra ngoài. Toàn bộ khớp gối được bao bọc bởi một lớp màng hoạt dịch có tác dụng tiết ra dịch khớp để bôi trơn trong quá trình vận động.
ThS. Nguyễn Hoàng Lan

Những sai lầm khi điều trị bong gân

Bong gân là một trong những tổn thương rất hay gặp và sẽ để lại nhiều hậu quả nếu không điều trị đúng cách.Tuy nhiên trên thực tế thì hầu hết bệnh nhân thường chủ quan với chấn thương này và không tuân thủ đúng điều trị. Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho bạn đọc những điều cần thiết nhất khi mắc phải chấn thương này.
Bong gân xảy ra khi nào?
Bong gân chính là tổn thương dây chằng ở các khớp, đây là phần liên kết 2 xương lại với nhau, bong gân là một cách gọi dân gian với dạng chấn thương này. Các trường hợp dẫn đến chấn thương dây chằng thường là chơi thể thao, tai nạn giao thông, tai nạn trong sinh hoạt hằng ngày... Các vị trí dây chằng bị tổn thương thường gặp là khớp cổ tay, cổ chân, vai, khuỷu tay... gồm các mức độ khác nhau:
Týp 1: dây chằng bị giãn.
Týp 2: dây chằng bị đứt một phần.
Týp 3: dây chằng bị đứt hoàn toàn.
Xác định mức độ chấn thương đúng để điều trị đúng
Cần dựa vào các biểu hiện qua thăm khám tại chỗ, nếu người bệnh chỉ thấy sưng đau, cảm giác mất vững khi vận động thì dây chằng bị giãn hoặc có đứt một phần nhưng nếu vừa sưng đau, mất vững và vừa bầm tím thì rất có thể dây chằng đã bị đứt một phần hoặc hoàn toàn.
Để khẳng định chắc chắn hơn bệnh nhân cần được chụp Xquang, ngoài ra có thể phải làm siêu âm và chụp cộng hưởng từ.
Phải làm gì khi bị bong gân?
Đối với tổn thương dây chằng thì biện pháp điều trị bảo tồn là chủ yếu. Quan trọng nhất là cần thực hiện bất động khớp bị tổn thương đủ thời gian để dây chằng phục hồi trở lại. Có thể bất động bằng dùng nẹp y tế, dùng băng chun ép nhưng tốt nhất là bất động bằng đắp bột  mới đảm bảo được bất động tuyệt đối. Thời gian cần bất động thường là 4 tuần, với  người cao tuổi thì thời gian có thể lâu hơn một chút. Sau đó người bệnh có thể vận động nhẹ nhàng và sau 8 tuần có thể chơi thể thao bình thường.
Những trường hợp tổn thương dây chằng nhưng do không tuân thủ đúng chỉ định điều trị sẽ dẫn đến xơ hoá dây chằng gây đau mạn tính và khó vận động sẽ phải phẫu thuật để tạo hình lại dây chằng.
Đa số người bệnh sai lầm khi bị bong gân
Quan niệm của người bệnh thường rất chủ quan khi bị bong gân, họ cho rằng tai nạn bong gân không quan trọng, họ chỉ đến bệnh viện khi có kết hợp với gãy xương vì thế dẫn đến hàng loạt sai lầm do tự điều trị. Người dân thường dùng mật gấu, rượu, xoa cao vào nơi bị tổn thương, đây là sai lầm nghiêm trọng vì tổn thương dây chằng nghiêm cấm dùng các chất nóng tác động tại chỗ do những chất này gây chảy máu mạnh hơn. Trong khi tổn thương này cần dùng các thuốc gây lạnh và làm giảm đau tại chỗ như các loại thuốc dạng gel lạnh hay salonpas lạnh.
Các chất có tính nóng chỉ nên dùng trong trường hợp gãy xương vì tác dụng của sức nóng sẽ làm tăng tiết dịch, máu làm nhanh liền xương hơn. Nhưng tuyệt đối không nên xoa vào nơi dây chằng tổn thương vì  có thể dẫn đến teo cơ, cứng khớp sau này.
Do chủ quan với bệnh nên hầu hết người bệnh đều cố gắng vận động mà không tuân thủ yêu cầu phải cố định, điều này có thể dẫn đến đau dây chằng mạn tính, có dùng thuốc cũng không điều trị dứt điểm được.     
Sử dụng các thuốc điều trị như thế nào?
Ngoài việc dùng băng chun ép, đắp bột để bất động người bệnh cần dùng các thuốc sau:
Thuốc giảm đau, dòng NSAIDs;  thuốc giảm phù nề, viêm như alphachoay; trong một số trường hợp tổn thương dây chằng lớn có thâm tím do đứt nhiều thì phải dùng kết hợp thuốc kháng sinh để phòng nhiễm khuẩn.
ThS. Trần Trung Dũng

Phụ nữ thành thị bị loãng xương nhiều hơn phụ nữ nông thôn

Loãng xương (LX) là một bệnh lão hóa của hệ thống xương của cơ thể, đặc biệt ở người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Do vậy bất kỳ phụ nữ nào khi bước vào tuổi 55-60 cũng có thể bị LX. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, quá trình lão hóa xương xuất hiện sớm hơn, thậm chí cả ở những người phụ nữ trẻ tuổi. LX có ý nghĩa lâm sàng quan trọng vì gãy xương do LX để lại những hậu quả nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.
 Loãng xương ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống.
Các nguyên nhân gây LX ở phụ nữ thành thị
Chính sự thay đổi môi trường sống là một yếu tố nguy cơ gây LX. Hiện nay cùng với việc gia tăng tốc độ đô thị hóa đến chóng mặt, thì tỷ lệ LX ngày càng cao ở các đô thị. Phụ nữ ở thành thị có nguy cơ LX cao hơn ở nông thôn. Tuổi thọ đang cao lên cũng làm tăng gãy xương do LX ở châu Á. Các yếu tố sinh hoạt, ăn uống, vận động của từng cá nhân cũng làm gia tăng nguy cơ LX cho phụ nữ sống ở các đô thị. Phụ nữ bận rộn thường có chế độ ăn uống thất thường, do vậy lượng canxi đưa vào thấp mới chỉ 400mg trong khi đó cơ thể cần 800-1.000mg canxi hằng ngày. Cần chú ý rằng một số phụ nữ trẻ có chứng chán ăn do thần kinh, do áp dụng một số biện pháp nhịn ăn để giữ eo. Do vậy thường xảy ra sự thiếu hụt canxi cũng như cả các chất đạm cần thiết cho xây dựng khung xương của cơ thể. Phơi nắng là một yếu tố vô cùng quan trọng để cơ thể có thể tự sản xuất ra vitanin D, cần thiết cho hấp thu canxi vào xương. Cần chú ý rằng lạm dụng việc sử dụng kem chống nắng cũng làm giảm hấp thu vitamin D từ đó lượng vitamin D cần thiết là 400-1.000UI. Ở miền Bắc Ấn Độ có tới hơn 40% dân chúng bị thiếu hụt vitamin D. Lối sống tĩnh tại như ngồi lâu trong văn phòng, ít đi lại cũng gây LX. Cần chú ý rằng tập thể lực quá mức dẫn đến vô kinh. Tình trạng mất kinh xảy ra cả ở các nữ vận động viên điền kinh. Chế độ làm việc căng thẳng bận rộn, nhiều stress gây đau dạ dày, khiến cơ thể kém hấp thu các chất, kể cả canxi và vitamin D rất cần cho khung xương của cơ thể. Stress cũng gây rối loạn kinh nguyệt, mãn kinh sớm, là yếu tố nguy cơ cao gây LX. Hiện nay phụ nữ có xu hướng gia tăng hút thuốc lá và uống rượu, đặc biệt ở các vùng núi và uống cà phê ở thành phố. Chính các thói quen xấu này cũng làm gia tăng nguy cơ LX. Hút thuốc lá một bao mỗi ngày trong suốt giai đoạn trưởng thành có thể làm mất từ 5-10% khối lượng xương của cơ thể.
Phòng ngừa loãng xương như thế nào?
Chế độ ăn cần đa dạng, bảo đảm đầy đủ đạm và khoáng chất đặc biệt là canxi. Sữa và các sản phẩm chế tiến từ sữa (bơ, phomat, yaourt...), trứng là nguồn cung cấp canxi quan trọng. Các thực phẩm như tôm, tép, cua, cá, vừng, rau ngót, rau thơm, rau muống, rau dền, rau bí, măng khô, đậu nành, tào phớ, xúp lơ... đều giàu canxi. Tốt nhất là ăn cá kho nhừ cả xương. Ngoài ra cần bổ sung vitamin D, có trong sữa, trứng, nấm tươi, cá hồi, trai, sò... để cơ thể hấp thu được canxi. Nên ăn nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen tự nhiên như giá đỗ, đậu nành, bắp cải, tỏi, yến mạch, lạc... vì chúng làm tăng khoáng chất trong xương. Uống trà thường xuyên giúp làm giảm nguy cơ LX do trong trà có nhiều hợp chất tạo xương. Cần có chế độ tập luyện thường xuyên  phù hợp với sức khỏe và từng lứa tuổi. Cần tập thể dục đều đặn 30 phút mỗi ngày, đi bộ nhanh, chạy chậm, tập thể dục thẩm mỹ. Ngoài ra cần tăng thời gian hoạt động ngoài trời hoặc tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể. Để duy trì mật độ xương hợp lý cần tránh các thói quen xấu như uống rượu, cà phê, hút thuốc lá.          
PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa khớp - BV Bạch Mai)