Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Những bài tập hữu ích cho người đau khớp

Sự tập luyện thể dục giúp bệnh nhân đau khớp ít phụ thuộc vào thuốc và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Hiệp hội Chỉnh hình y học Thể thao Hoa Kỳ vừa giới thiệu các bài tập nhằm làm giảm cơn đau, hạn chế các biến chứng khớp hiệu quả.
Khởi động trước khi tập
Bệnh nhân bị đau khớp, trước khi tập cần khởi động nhẹ nhàng như sau: lần lượt gập đầu sang trái, phải, ra trước, ra sau; lặp lại 4 lần. Xoay cổ tay, khuỷu tay, khớp vai, mỗi động tác 5 lần. Xoay cổ chân, đầu gối, mỗi động tác 5 lần. Vặn mình sang mỗi bên 3 lần. Đi bộ tại chỗ hoặc bước đi khoảng 2-3 phút. Nếu trong lúc tập thấy khó thở, chóng mặt, mệt hay đau thắt ngực thì ngưng bài tập ngay. Chúng tôi đã điều chỉnh cường độ các bài tập sau đây cho phù hợp với sức khỏe người Việt Nam.
Những bài tập hữu ích cho người đau khớp 1
Kéo căng khớp vai. Kéo căng cánh tay
Kéo căng khớp vai
Đứng thẳng người, chân mở rộng bằng vai, đan các ngón tay vào nhau, lòng bàn tay ngửa lên trên, từ từ đưa thẳng 2 tay lên trên qua đầu, rồi gồng vươn tay hết mức, đếm giữ ở tư thế này 10 giây rồi thả lỏng lại. Bạn sẽ thấy cảm giác kéo căng ở cánh tay, vai và phần trên của lưng. Làm từ 3-5 lần.
Kéo căng cánh tay
Đứng thẳng người, hai chân mở rộng bằng vai. Dùng bàn tay bên phải nhẹ nhàng kéo khuỷu tay bên trái choàng qua ngực đến vai bên phải; lực kéo mạnh dần, đếm giữ 10 giây rồi thả lỏng lại. Đổi bên. Làm 3-5 lần mỗi bên.
Kéo căng gối - ngực
Nằm ngửa trên nệm cứng, đan ngón tay vào nhau, kéo đầu gối bên trái co lên ép vào ngực, trong khi đầu vẫn giữ áp sát mặt nệm, đếm giữ 20-30 giây rồi thả lỏng lại. Đổi bên.
Kéo căng gân cơ Asin và cẳng chân
Đứng sau ghế tựa, cách khoảng 60cm, 2 bàn tay vịn chặt vào vai ghế, bàn chân phải đặt trước chân trái 1 khoảng bàn chân, gập gối phải trong khi chân trái vẫn duỗi thẳng. Hạ thân mình xuống từ từ, gối phải gập sâu hơn, lưng vẫn giữ thẳng và chân trái vẫn duỗi thẳng trên sàn, bàn chân áp sát mặt đất đếm giữ 10-20 giây rồi thả lỏng lại. Đổi bên.
Kéo căng cơ đùi sau
Ngồi trên nệm, duỗi thẳng 2 chân ra trước, dùng khăn bông dài quàng vào mũi bàn chân, thẳng 2 tay, cầm khăn kéo và hơi gập phần trên thân người tới trước, đếm giữ 20-30 giây rồi thả lỏng lại. Đổi bên.
Kéo căng cơ đùi trước
Tay phải vịn chặt vào thành ghế, đứng trên 1 chân trái. Dùng tay trái nắm giữ bàn chân phải, kéo dần gót chân lên phía mông, đếm giữ 20-30 giây rồi thả lỏng lại. Đổi bên.
Ngồi xổm tương đối
Đứng phía trước ghế, 2 chân mở rộng bằng vai, dạng 2 bàn chân nhẹ sang 2 bên, trọng lực dồn đều 2 chân. 2 tay đặt chéo trước ngực, lưng thẳng. Từ từ ngồi xuống ghế. Làm động tác 8-12 lần, sau đó nghỉ 30-60 giây rồi tập động tác kế tiếp.
Ngồi xuống và đưa chân sang bên
Đứng nghiêng người sau ghế, vịn tay phải vào thành ghế để giữ thăng bằng, đứng dạng 2 chân ngang bằng 2 vai. Từ từ ngồi xuống như ngồi ghế cho đến khi đùi song song với mặt đất. Giữ lưng thẳng, không chồm người tới trước. Ngưng 10-20 giây, sau đó từ từ đứng dậy trên chân phải, nhấc chân trái lên khỏi mặt đất và dang sang bên. Ngưng một lúc và trở lại tư thế đứng ban đầu. Lập lại 5-8 lần mỗi chân. Nghỉ 30-60 giây và sau đó đổi bên.

Theo BS Ninh Thanh Tùng - Sức khỏe & Đời sống

Viêm cột sống dính khớp, bệnh dễ gây tàn phế

Dấu hiệu sớm thường gặp là đau âm ỉ, mơ hồ vùng thắt lưng hoặc mông.  Bệnh nếu không phát hiện, điều trị sớm sẽ nặng dần khiến người bệnh bị tàn phế.

Theo Ths.BS Hồ Phạm Thục Lan, Trưởng Khoa Cơ Xương Khớp, BV Nhân dân 115, viêm cột sống dính khớp là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến ở nước ta. Viêm cột sống dính khớp như tên gọi là bệnh lý viêm của khớp trục như cột sống và khớp cùng - chậu mạn tính gây cứng và dính cột sống. Tuy nhiên các khớp ngoại biên khác, nhất là các khớp lớn ở chi dưới như khớp háng và khớp gối cũng có thể bị tổn thương. Yếu tố di truyền và yếu tố môi trường là hai nguyên nhân chính, tương tác với nhau một cách chặt chẽ để gây nên bệnh.
Bệnh nếu không được phát hiện, điều trị sớm sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến dính và biến dạng toàn bộ cột sống với hai khớp háng, khiến người bệnh bị tàn phế, không đi lại được. Cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của gia đình và xã hội.
Người bệnh thường có tư thế giảm đau xấu là nằm nghiêng co lưng tôm, hay nằm ngửa kê gối cao đầu. Hậu quả là bị gù lưng, đi đứng lom khom, đầu cúi về phía trước. Gù lưng nhiều có thể khiến các xương sườn chạm vào cánh xương chậu, hạn chế giãn nở lồng ngực, gây suy hô hấp, suy tim. Các biến chứng nặng nề khác của bệnh là lao phổi, liệt hai chân do chèn ép tủy và rễ thần kinh.
Dấu hiệu sớm thường gặp của bệnh là đau âm ỉ, mơ hồ vùng thắt lưng hoặc vùng mông. Ảnh: lowerbackache
Dấu hiệu sớm thường gặp của bệnh là đau âm ỉ, mơ hồ vùng thắt lưng hoặc vùng mông. Ảnh: lowerbackache
BS Thục Lan cho biết, đến nay vẫn chưa có biện pháp đặc hiệu nào có thể điều trị dứt hẳn bệnh viêm cột sống dính khớp. Các thuốc lưu hành hiện nay chỉ đạt được mục tiêu làm giảm các đợt đau cấp, ngăn ngừa tiến triển của bệnh và bảo tồn chức năng vận động.
Bác sĩ Lan chia sẻ, trước đây, trong một thời gian điều trị viêm cột sống dính khớp chỉ đạt được mục tiêu giảm đau, chống viêm bằng các thuốc kháng viêm nonsteroids và một số thuốc điều hòa miễn dịch (sulfasalazine, methotrexate…). Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, nhóm thuốc mới gồm các tác nhân sinh học (biologic agents) cho thấy có hiệu quả chặn đứng được sự phát triển của bệnh nếu sử dụng thuốc sớm.
Trong hầu hết trường hợp, điều trị bao gồm dùng thuốc, kết hợp vật lý trị liệu và tập thể dục. Một vài trường hợp nặng do chẩn đoán và điều trị muộn hoặc điều trị không phù hợp gây biến dạng khớp, phẫu thuật chỉnh hình có thể được áp dụng để sửa chữa các tổn thương khớp do bệnh gây ra.
Một số triệu chứng của bệnh
Trong thời kỳ đầu phát bệnh, các triệu chứng thường nhẹ nên không được chú ý. Khi triệu chứng đã rõ thì bệnh đã tiến triển được nhiều tháng cho đến vài năm.
Dấu hiệu sớm thường gặp là đau âm ỉ, mơ hồ vùng thắt lưng hoặc vùng mông. Biểu hiện ở cột sống thường bắt đầu từ khớp cùng chậu nằm phía sau khung chậu, sau đó tổn thương tiếp tục lan theo chiều từ dưới lên trên cao cho đến tận đốt sống cổ. Đau có đặc điểm tăng lên về đêm và cứng cột sống, thấy rõ nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy.
Ở giai đoạn muộn, người bệnh viêm cột sống dính khớp thường có các biến dạng cột sống rõ rệt như eo lưng dẹt do teo cơ cạnh cột sống, lưng gù, cổ vươn về phía trước.
Khớp háng bị viêm trong khoảng 70% trường hợp, thường xuất hiện trong 5 năm đầu bị bệnh. Viêm khớp háng có biểu hiện đau vùng bẹn, sau mông, hạn chế vận động phần hông thường ở trạng thái co gấp. Các cơ mông và đùi teo nhanh chóng.
Viêm khớp gối, chủ yếu là sưng đau, ít nóng đỏ, có thể kèm theo tràn dịch khớp, làm hạn chế các động tác gấp duỗi chân, đi lại khó khăn. Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai. Đau gót chân và đau sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận.
Ngoài ra, bệnh còn có một số biểu hiện toàn thân và ngoài khớp như sốt, gầy sút, viêm mống mắt, hở van tim, loạn nhịp tim. Những bất thường đó có thể được chẩn đoán khi chụp X-quang tim phổi, làm siêu âm tim.
Nếu có các biểu hiện nói trên, bạn cần đến khám tại bệnh viện để được các bác sĩ chuyên khoa cho chụp X-quang cột sống, đặc biệt là khớp cùng chậu và làm các xét nghiệm máu, dịch khớp. Ngày nay để chẩn đoán sớm bệnh người ta có thể áp dụng phương pháp cộng hưởng từ hay tìm yếu tố HLAB27. Xét nghiệm tốc độ máu lắng và CRP để xác định tình trạng viêm và theo dõi độ tiến triển bệnh.
Chế độ sinh hoạt, vận động khi bị viêm cột sống dính khớp
Bản thân bệnh nhân viêm cột sống dính khớp muốn giảm nhẹ đau đớn nên thường để các khớp ở trạng thái hoàn toàn không hoạt động trong thời gian dài, hậu quả là bị teo cơ bắp và co rút khớp xương, gây tàn phế. Do vậy phương pháp tốt nhất là tích cực điều trị bằng các thuốc chống viêm để kiểm soát tình trạng đau. Khi đã ổn định tình trạng viêm đau sẽ phối hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng để cải thiện hoạt động các khớp xương.
Trong giai đoạn tiến triển của bệnh, cần phải nghỉ ngơi. Khi không vận động phải đặt khớp xương viêm cấp tính ở vị trí thích hợp hoặc dùng nẹp hạn chế cử động, tránh phát sinh co rút khớp. Trong thời kỳ cấp tính phải kiên trì tập duỗi thẳng chi và cột sống để giảm nhẹ các cơn đau do co rút cơ gây ra. Khi nằm nghỉ, phải nằm ngửa trên nền cứng, đầu gối thấp, chân duỗi thẳng hơi dạng để tránh các khớp bị co rút nặng thêm. Với tư thế này nếu cố định khớp thì vẫn đi lại được.
Khi bệnh đã đỡ thì cần phải tích cực vận động càng sớm càng tốt để chống dính khớp. Cần phải hiểu rằng tập vận động khớp và điều trị bằng thuốc đều có tầm quan trọng như nhau. Bệnh nhân phải học cách tự chăm sóc bản thân và thường xuyên tập thể dục, với sự hướng dẫn của bác sĩ để duy trì được tư thế tốt nhất của cột sống, tăng cường cơ lực của các cơ cạnh cột sống và tăng hoạt động của các cơ hô hấp.
Trong thời gian bị bệnh, mỗi ngày cần hoạt động khớp xương nhẹ nhàng 1-2 lần để giúp giảm bớt co cứng cơ. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp cho phục hồi nhanh hơn. Có thể áp dụng các bài tập thể dục trị liệu hay tập bơi, chơi cầu lông, bóng bàn. Thậm chí sau khi các triệu chứng bệnh đã khỏi thì vẫn phải kiên trì vận động trong thời gian dài để duy trì các khớp xương ở trạng thái chức năng bình thường. Tránh mang vác nặng, ngồi lâu không thay đổi tư thế làm ảnh hưởng đến cột sống.
Người bệnh nghiện thuốc lá phải dừng ngay hút thuốc lá để phòng tránh suy hô hấp.
Bệnh viêm cột sống dính khớp cũng ảnh hưởng đến khả năng hoạt động tình dục của người bệnh. Ở giai đoạn muộn khi cột sống và các khớp đã biến dạng nhiều, bạn thậm chí không thể tự mình sinh hoạt bình thường được. Một số thuốc điều trị cũng ảnh hưởng đến chức năng sinh dục.
Bệnh cũng ảnh hưởng cả đến thế hệ con cái. Nguy cơ những đứa trẻ của những người có HLA B 27 dương tính bị mắc bệnh viêm cột sống dính khớp lên tới 50%. Do vậy người bệnh viêm cột sống dính khớp nên cân nhắc kỹ khi lập gia đình và có con. Nên lập gia đình và có con sớm, ở giai đoạn đầu của bệnh khi chưa có biến dạng cột sống và các khớp.
Những người viêm cột sống dính khớp nếu thấy khớp háng không thoải mái thì nên đi kiểm tra sớm và khám định kỳ. Đối với người có khớp háng đã bị cứng đờ, không thể sinh hoạt và làm việc bình thường thì phải phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo.
Để không bị tàn phế khi viêm cột sống dính khớp
Cần phát hiện và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm thì kết quả mới khả quan. Mục đích của điều trị là giảm đau, chống viêm, và vật lý trị liệu để duy trì chức năng vận động của các khớp cột sống và ngoại vi.
Điều quan trọng là cần nhận thức được tình trạng viêm mạn tính, vì vậy việc kiểm soát bệnh là suốt đời. Cần tuân thủ đúng chế độ thuốc men và tập luyện do các bác sĩ chuyên khoa chỉ định. Giai đoạn tiến triển của bệnh nếu không được điều trị đúng, các khớp bị phá hủy nhiều và gây dính khớp ở tư thế xấu.
Ngoài bệnh chính, nhiều khi còn các bệnh kèm theo như viêm loét dạ dày, bệnh tim mạch và loãng xương. Chất lượng sống sẽ được cải thiện phụ thuộc sự tuân thủ điều trị bệnh theo bác sĩ chuyên khoa và theo dõi chặt tác dụng phụ của thuốc.

Theo VnExpress

Viêm gân cơ, dùng thuốc gì điều trị?

Viêm gân cơ là một bệnh khá phổ biến. Bệnh thường gặp ở người lao động nặng, vận động viên thể thao mà còn gặp ở những người ngồi văn phòng và dùng máy tính nhiều.

Khi gân cơ bị viêm xuất hiện triệu chứng đau gân, cơ. Cấu trúc của gân bị tổn thương, ảnh hưởng đến chức năng vận động. Quá trình làm lành gân bị tổn thương thường lâu dài và khó hồi phục hoàn toàn.
Trước tiên dùng các biện pháp không dùng thuốc như: nghỉ ngơi, xoa bóp nhẹ vùng gân cơ bị đau, chườm lạnh (giúp giảm quá trình viêm cấp tính). Trong một số trường hợp đau nhiều thì cần phải cố định vùng khớp đau bằng nẹp chỉnh hình, băng chun. Đối với viêm gân mạn tính kéo dài thì lại cần chườm ấm, giúp tăng dòng máu đến và gia tăng chuyển hoá tế bào để phục hồi vùng gân cơ bị tổn thương...
Viêm gân Achilles.
Nếu các biện pháp điều trị tại chỗ có kết quả hạn chế thì có thể dùng thêm thuốc chống viêm không steroid đường uống, có tác dụng chống viêm giảm đau. Tuy nhiên, cần chú ý rằng chỉ nên dùng các thuốc này trong thời gian ngắn để kiểm soát các triệu chứng viêm đau chứ không nên dùng lâu dài vì có thể có tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, tim mạch.
Một biện pháp nữa cũng hay được sử dụng là tiêm tại chỗ corticoid. Tuy nhiên, liệu pháp này chỉ được áp dụng bởi bác sĩ chuyên khoa xương khớp vì nếu tiêm không đúng thì có thể gây nguy cơ nhiễm trùng hay đứt gân. Khi các triệu chứng viêm đã ổn định thì có thể dùng thêm các glycosaminoglycan polysulfat để ức chế viêm, phục hồi tổn thương, vừa có tác dụng điều trị vừa có thể dự phòng tái phát bệnh về lâu dài.
Hiện nay, người ta bắt đầu phát triển các liệu pháp điều trị thúc đẩy quá trình sửa chữa gân, rút ngắn thời gian hồi phục gân, dựa trên cơ sở tăng cường sự tập trung và hoạt hóa các tế bào gân và đẩy mạnh sản xuất chất nền cơ bản của gân. Đó là việc sử dụng thuốc chứa collagen, vitamin C, kết hợp với chondroitin sulfat. Với các thành phần này, gân sẽ được nuôi dưỡng vì được cung cấp các thành phần cần thiết để duy trì các đặc tính cơ sinh học của nó. Vấn đề quan trọng nhất là sau khi đỡ viêm gân cơ thì bệnh nhân cần có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý để dự phòng viêm gân cơ tái phát.
Điều trị viêm gân cơ cần kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, dùng thuốc. Việc phối hợp các biện pháp này ở mức độ khác nhau trên một bệnh nhân cụ thể tuỳ vào thể bệnh cấp tính hay mạn tính, mức độ tổn thương, vị trí tổn thương cũng như các tổn thương kèm theo. Và, việc điều trị cần phải được tiến hành bởi bác sĩ chuyên khoa xương khớp.

Theo BS. Hồng Hạnh - Sức khỏe & Đời sống

Tê tay chân, điều trị thế nào?

Tê tay chân là một triệu chứng có thể có của nhiều bệnh. Tuy không cấp tính nhưng khiến cho người bị mắc lo lắng vì ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt cũng như tâm lý.

Nguyên nhân tê tay chân
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra các triệu chứng tê chân tay trong đó có nguyên nhân do dùng một số thuốc. Tùy theo bệnh mà có thể có nhiều kiểu tê khác nhau kết hợp với các triệu chứng khác nữa. Khi bị tê tay chân, nguyên nhân do thần kinh biểu hiện ở hội chứng ống cổ tay, thoái hóa cột sống thường được nghĩ đến đầu tiên. Sau đó là nguyên nhân do mạch máu. Khi tổ chức bị cung cấp máu ít, gây toan máu tại chỗ cũng làm tê tay chân.
Cuối cùng là nguyên nhân do rối loạn chuyển hóa nước, điện giải... Cần quan tâm đến chế độ dinh dưỡng của người bệnh vì nếu cơ thể không đủ các vitamin như B1, B6, B12, acid folic... cũng có thể bị tê tay chân ở nhiều mức độ khác nhau. Người bị bệnh đái tháo đường hay tê tay chân do bị tổn thương các thần kinh ngoại vi, tủy sống hay các rễ thần kinh ngoại vi bị chèn ép. Nếu cơ thể bị nhiễm độc các kim loại nặng như chì, thạch tín (arsenic), cyanide, thủy ngân (mercury) làm tay chân bị tê rất khó chịu.
Tư thế đứng hay ngồi không thích hợp làm máu lưu thông không tốt, thần kinh bị chèn ép (ví dụ như ở cổ tay, cột sống), chỉ cần tránh giữ lâu ở các tư thế đó là sẽ hết tê tay, chân. Ðôi khi vì công việc phải đứng, ngồi lâu quá hay ở một số tư thế làm máu khó lưu thông cũng có thể làm chân tay chỗ đó bị tê buốt. Thường sau khi đau thần kinh một thời gian mà điều trị không khỏi thì sẽ xuất hiện tê (có thể coi là biến chứng của đau thần kinh). Đặc biệt lưu ý, nếu tê nửa người trong 3 ngày trở lại mà có tăng huyết áp thì rất nhiều khả năng là dấu hiệu ban đầu của bệnh tai biến mạch máu não.
Tê tay chân là dấu hiệu của nhiều bệnh
Những người đang dùng thuốc lâu ngày cũng có thể bị tác dụng phụ của thuốc gây tê tay chân. Bạn đang dùng thuốc điều trị lao, là loại thuốc phải dùng kéo dài 8 - 9 tháng nên rất có thể tình trạng tê tay chân là do tác dụng phụ của thuốc.
Những người nghiện rượu, nhiễm trùng mạn tính, HIV/AIDS, giời leo, phong cùi, ung thư, bệnh suy tuyến giáp... cũng hay có triệu chứng tê tay chân. Người đang tiêm streptomycin (thuốc kháng sinh điều trị lao) cũng có thể gặp phản ứng phụ là tê quanh môi, cảm giác tê như kiến bò trên cơ thể. Đây là phản ứng nhẹ nên cần giải thích cho người dùng thuốc yên tâm và sau một thời gian sẽ hết.
Và hướng dùng thuốc chữa
Để khắc phục tình trạng tê tay chân, cần loại trừ các nguyên nhân gây ra nói trên. Triệu chứng tê tay chân khi đi thăm khám bệnh thường được nghĩ đến các nguyên nhân do thần kinh. Vì vậy, các thuốc vitamin nhóm B hay được sử dụng. Tuy nhiên, nhiều khi tê tay chân là do việc dùng kéo dài một số thuốc nguy cơ đã nêu ở trên. Khi đó, cần cân nhắc để giảm liều hoặc dừng thuốc đang sử dụng.
Nếu tình trạng tê tay chân nặng và đang nội trú trong bệnh viện thì nên dùng vitamin B6 tiêm. Nếu người dùng thuốc đang điều trị ngoại trú thì cần phải đến kiểm tra lại tại cơ sở y tế gần nhất và có thể uống bổ sung vitamin B6 dạng viên theo hướng dẫn của thầy thuốc.
Nếu tê phù do thiếu vitamin B1 thì cần phải tiêm B1 liều cao theo chỉ định của thầy thuốc sẽ tác dụng rất tốt. Trên thị trường có một số biệt dược phối hợp vitamin B1, B6, B12 ở dạng tiêm thường được dùng trong các chứng đau do tổn thương dây thần kinh hoặc tê tay chân. Nếu bị nhẹ, người bệnh nên uống bổ sung hàng ngày viên B complex, trong đó có thành phần của B1, B6, B12.

Và chú ý trong khi lao động, làm việc cần phải thay đổi các tư thế có thể làm tê tay chân như ngồi lâu, đứng lâu, treo mình trên dây hoặc mặc quần áo quá chật… để tránh. Cần ăn uống cân bằng đủ chất hơn để tránh bị thiếu vitamin. Nếu triệu chứng tê tay chân kéo dài, thường xuyên và khó chịu, nên đến các cơ sở y tế sớm để được thăm khám, làm các xét nghiệm cần thiết, có chẩn đoán chính xác để có cách điều trị thích hợp và kịp thời.
AloBacsi.vn
Theo DS.Quỳnh Nga - Sức khỏe & Đời sống

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Thoái hóa khớp: Người trẻ cũng lo!

Thoái hóa khớp thường gặp ở người cao tuổi. Tuy nhiên hiện nay có nhiều trường hợp chưa tới 40 tuổi cũng bị bệnh này.

Do nhiều nguyên nhân
Theo PGS-TS Nguyễn Văn Thắng, Khoa Xương khớp, BV Chấn thương chỉnh hình TP.HCM, bệnh thoái hóa khớp là bệnh thường gặp nhất ở khớp do tổn thương các thành phần như: sụn khớp, xương dưới sụn và màng khớp. Những khớp thoái hóa sớm thường là những khớp lớn, chịu lực như: khớp gối, khớp háng, cột sống, khớp vai…
Người bị bệnh thoái hóa khớp thường có các biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau; mất chức năng của khớp, có tiếng kêu vùng khớp… Song đau là triệu chứng được nhiều người quan tâm nhất. Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng của bệnh khớp thường ít đặc trưng. Không ít bệnh nhân bị bướu ở đầu các xương (bướu đại bào xương, bướu nguyên bào sụn, bọc xương phồng máu, ung thư xương…) đã bị chẩn đoán nhầm là viêm khớp hay thoái hóa khớp.
Để chẩn đoán chính xác thoái hóa khớp phải dựa vào hình ảnh X-quang, cộng hưởng từ (MRI), siêu âm, xét nghiệm máu, dịch khớp, tế bào, nội soi, sinh thiết…
Thoái hóa khớp nguyên phát là do vấn đề về tuổi tác (phụ nữ mãn kinh bị giảm nội tiết tố nữ), do yếu tố cơ học (các động tác lặp đi lặp lại nhiều lần), di truyền và sinh hóa (khiếm khuyết về thành phần cấu tạo sụn khớp).
Thoái hóa khớp thứ phát như loãng xương, chấn thương khớp, sai lệch điểm tì đè lên mặt khớp. Béo phì cũng là nguyên nhân thứ phát gây ra thoái hóa khớp bởi dẫn tới sự quá tải cho khớp, nhất là các khớp chi dưới.
Bên cạnh đó, nguyên nhân thứ phát gây ra thoái hóa khớp còn là do bệnh viêm khớp, bệnh nhân dùng quá nhiều thuốc corticoid, hay người bị cường tuyến yên, cường tuyến thượng thận.
Để ngăn ngừa bệnh thoái hóa khớp, bác sĩ Thắng khuyên chúng ta hãy duy trì trọng lượng cơ thể ở mức phù hợp, luyện tập thể thao đúng yêu cầu, tránh nằm, ngồi, đứng lâu một chỗ. Vì như vậy sẽ làm ứ trệ tuần hoàn và gây cứng khớp. Đặc biệt, không nên ở tư thế ngồi không có điểm tựa (ngồi xổm tác động xấu tới khớp gối và cột sốngthắt lưng)…
Điều trị khác nhau cho từng trường hợp
Bệnh thoái hóa khớp do nhiều nguyên nhân nên quan niệm chỉ cần dùng một phương thuốc là hoàn toàn sai lầm.
Trước tiên là điều trị theo nguyên nhân gây ra thoái hóa. Chẳng hạn nếu nguyên nhân bởi viêm khớp thì phải điều trị viêm, do chấn thương thì phải điều trị chấn thương…
Tiếp đến phải kháng viêm, giảm đau để giúp người bệnh tiếp tục sinh hoạt và làm việc bình thường. Có thể bác sĩ sẽ dùng các thuốc kháng viêm không steroid (không nên dùng các thuốc có corticoid).
Không chỉ thế, bệnh nhân còn cần giảm áp lực đè lên các khớp bị thoái hóa. Ví dụ người bệnh béo phì cần giảm cân, không chạy nhảy khi khớp đang tổn thương, không khiêngvác nặng…
Ngoài ra, bác sĩ có thể cho bệnh nhân dùng thêm thuốc bổ xương, khớp cũng như các thuốc chống loãng xương tùy trường hợp (glucosamine, chondrotine, calcium, vitamin D, alendronate, raloxifene...).
Người bị thoái hóa khớp vẫn phải vận động tập luyện. Việc vận động nhiều hay ít tùy thuộc từng nhóm nguyên nhân gây thoái hóa khớp.
Chỉ khi nào tiến hành điều trị nội khoa thoái hóa khớp thất bại, bệnh nhân mới được bác sĩ cân nhắc chỉ định cho phẫu thuật (nội soi cắt lọc, đục xương chỉnh trục, thay khớp...).
PGS-TS Thắng khuyên: "Trong bộn bề công việc hằng ngày, chúng ta nên sắp xếp hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể rất cần sự nghỉ ngơi để tái tạo năng lượng. Đau là dấu hiệu báo động sớm nhất, chúng ta cần phải ngưng ngay những tác nhân gây đau để bảo vệ khớp".

Theo Phụ nữ online

Hóa chất từ nhà bếp, có làm thoái hóa xương?

Theo năm tháng, xương trở nên già yếu và thoái hóa. Ngoài ra một số hóa chất hiện diện trong cuộc sống đời thường có vai trò rõ ràng gây ra chứng bệnh này.

Các chất bền màu vải
Có hai hóa chất thông thường quen thuộc được sử dụng trong ngành công nghiệp may mặc đó là hai hóa chất nhuộm vải: axit perfluorooctanoic (PFOA) và acid perfluorooctanesulfonic (PFOS).
Hai chất này được sử dụng rộng rãi quen thuộc trong ngành công nghiệp nhuộm vải nói riêng (chống phai màu) và nhiều ngành công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng khác nói chung như chế biến hộp đựng thực phẩm bằng bìa carton, các mỹ phẩm chăm sóc cơ thể. 
Tuy nhiên, người ta đang nghi ngờ các hóa chất này có vai trò gây ra bệnh thoái hóa xương khớp và đẩy nhanh quá trình lão hóa xương.
Thoái hóa xương vì hóa chất từ nhà bếp 1
Chất chống dính từ dụng cụ làm bếp có thể gây thoái hóa xương.
Nghiên cứu mới đây được công bố trên tạp chí Nghiên cứu về sức khỏe môi trường (Environmental Health Perspectives) cho thấy, có một mối liên quan nhất định giữa bệnh thoái hóa xương khớp và tình trạng nhiễm độc hai chất trên. Để tìm ra mối liên quan, người ta tiến hành điều tra trên 5.000 người mặc dù không làm việc trực tiếp với các ngành công nghiệp mà chỉ hoàn toàn là dân thường và tiếp xúc qua khói, bụi, không khí, nước và các sản phẩm gia dụng.
Kết quả cho thấy, bệnh thoái hóa xương ở phụ nữ có mối liên quan rõ ràng, chặt chẽ với các axit trên, trong khi đó, nam giới ít có sự liên quan. Có lẽ do phụ nữ thường xuyên dùng các sản phẩm chăm sóc cơ thể hơn nam giới. Công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng những phụ nữ tiếp xúc với PFOA cao hơn 25% so với người thường thì họ có nguy cơ bị thoái hóa xương khớp hơn 2 lần.
Điều này thực sự gây sốc vì các sản phẩm nằm trong diện điều tra lại là những thứ liên quan chặt chẽ với các đồ gia dụng như thảm màu trải sàn, quần áo màu, găng tay cao su, hộp đựng thực phẩm.
Chất chống dính
Dụng cụ nhà bếp chống dính đang là một xu thế hiện đại trong nhà bếp của các bà nội trợ. Nó có những ưu điểm không thể phủ nhận được như không làm bám dính thực phẩm, hạn chế gây cháy và giúp xào nấu nhanh chóng hơn. Nhưng người ta đang nghi ngại về tác dụng phụ của một trong các loại chất được dùng trong sản phẩm chống dính này. Đó chính là nhựa teflon.
Nhựa teflon là một trong các hóa chất thông dụng được dùng để chế tạo các sản phẩm gia dụng chống dính hiện đại. Tuy nhiên, mới đây, người ta đã phát hiện chất này đang có mối nguy cơ với sức khỏe hệ xương. Người ta thấy, nhựa chống dính teflon gây thoái hóa xương sớm trước tuổi ở người dùng.
Nghiên cứu được điều tra trên 50.000 người ở các vùng Ohio, West Virginia và được đăng tải trên tạp chí Dịch tễ học của Hoa Kỳ (Journal of Epidemiology) cho thấy, những gia đình thường xuyên dùng các loại chảo chống dính, nồi chống dính có chứa teflon thì có nguy cơ bị thoái hóa xương khớp cao hơn 40% so với các gia đình "lạc hậu" không dùng các dụng cụ này. Nguyên nhân được cho là trong quá trình xào nấu thực phẩm, nhựa teflon đã dần dần giải phóng ra axit perfluorooctanoatic, một chất gây thoái hóa xương khớp ở phụ nữ.
Điều đáng chú ý là nguy cơ này rất rõ rệt ở các phụ nữ trẻ tuổi, từ 20 - 49 tuổi, hơn là các phụ nữ cao tuổi, từ 50 - 84 tuổi. Điều này cho thấy rằng, các sản phẩm gia dụng chống dính có sử dụng teflon có khả năng làm thoái hóa xương khớp nhanh ở người trẻ.
Điều thu được
Qua hai công trình nghiên cứu mới nhất ở trên, chúng ta thấy cần phải bảo vệ sức khỏe hệ xương khớp trước các yếu tố nguy cơ. Không chỉ các công nhân bị phơi nhiễm trực tiếp với các yếu tố độc hại của môi trường lao động mà chính chúng ta, những người dân bình thường, cũng có thể là nạn nhân nếu sử dụng các sản phẩm kém chất lượng.
Với các sản phẩm gia dụng đã được kiểm định, hiện tượng thải dần các hợp chất độc hại là vẫn có, huống chi các sản phẩm kém chất lượng, được gia công giả nhãn mác. Các sản phẩm không đảm bảo gây ra nguy cơ tai hại với sức khỏe rất cao.
Ngoài các dụng cụ nhà bếp, các đồ vải vóc, may mặc, chúng ta cũng có thể có nguy cơ từ các sản phẩm công nghiệp kém chất lượng. Việc gây ô nhiễm các nguồn nước, khí thở bởi các hóa chất công nghiệp sẽ đe dọa đến sức khỏe hệ xương nói riêng và sức khỏe toàn cơ thể nói chung.

Theo Arthritis today - Sức khỏe & Đời sống

Chữa nứt xương bằng xương nhân tạo

Xương nhân tạo được tạo ra từ tế bào gốc và nhựa siêu nhẹ mới có thể sớm được sử dụng để chữa lành các chi bị gãy.

Các chuyên gia của Đại học Southampton và Edinburg (Anh) cho hay việc sử dụng các tế bào gốc kết hợp với vật liệu cứng phân hủy được và tiêm vào đoạn xương gãy có thể khuyến khích xương thật mọc trở lại.
Nhựa siêu nhẹ trên là một cấu trúc giàn giáo hình tổ ong, cho phép máu chảy xuyên qua nó, để các tế bào gốc trích xuất từ tủy xương của bệnh nhân bám vào và mọc xương mới.
nghien-cuu-xuong-nhan-tao
Hy vọng mới cho những người gãy xương - Ảnh: ĐH Edinburgh/Southampton
Theo thời gian, khung nhựa phân hủy dần và phần được cấy ghép được thay thế bởi xương mới, theo báo cáo đăng trên chuyên san Advanced Functional Materials.
Hiện các chuyên gia chuyển sang thực hiện các cuộc thử nghiệm trên người sau khi thu hoạch được thành công trong phòng thí nghiệm.
Họ đã mất đến 7 năm để hòa trộn 3 dạng nhựa vào với nhau sau khi thử hàng trăm sự kết hợp khác nhau nhằm tìm ra một bề mặt chắc chắn, nhẹ và có thể hỗ trợ tế bào gốc từ xương.
Mục tiêu của cuộc nghiên cứu này là để cải thiện chất lượng sống của những bệnh nhân bị chấn thương xương trầm trọng, cũng như giúp duy trì sức khỏe của dân số già trên thế giới, theo giáo sư Mark Bradley của Đại học Edinburgh.

Theo Thanh Niên Online