Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Gai cột sống, khi nào cần điều trị?

Gai cột sống là một biểu hiện của thoái hóa cột sống và cũng là một trong nhiều nguyên nhân gây ra đau lưng, đau cột sống cổ.

Khi lớp sụn đĩa đệm giữa các đốt sống bị mất hoặc giảm chức năng dẫn tới mâm đốt sống phải chịu lực quá mức, sẽ hình thành các gai xương ngoài rìa thân đốt sống. Với bệnh lý này, không phải lúc nào cũng cần thiết phải điều trị, chỉ can thiệp khi có triệu chứng hoặc gây ra những biến chứng nghiêm trọng.
Biểu hiện và triệu chứng của gai cột sống
Nếu gai cột sống thắt lưng thì bệnh nhân có thể thấy đau tập trung ở giữa thắt lưng hay lan tỏa xuống vùng hông. Hầu hết bệnh nhân có cơn đau thắt lưng ở mức độ thấp và chịu đựng được (mạn tính), dù thỉnh thoảng có cơn đau dữ dội kéo dài vài ngày ảnh hưởng tới đi đứng, hạn chế vận động. Với cơn đau mạn tính, bệnh nhân đau nhiều hơn khi vận động, cơn đau sẽ giảm bớt lúc nghỉ ngơi.
Gai cột sống, khi nào cần điều trị?
Nếu gai cột sống xảy ra ở vùng cổ, bệnh nhân thường đau sau gáy, đau hai bên vai. Một số bệnh nhân bị gai cột sống cổ có thể bị đau buốt kéo lên đỉnh đầu, đau nửa đầu, chóng mặt, buồn nôn, mất ngủ. Gai cột sống cổ nặng, đặc biệt khi kèm theo thoát vị đĩa đệm vùng cổ, có thể chèn ép các rễ thần kinh, gây đau, tê lan xuống vai, cánh cẳng tay.
Trường hợp bệnh nhân ban đầu chỉ cảm thấy đau vùng thắt lưng, nhưng lâu dài cơn đau lan xuống mông, chân, hoặc đang đau vùng cổ, vai bỗng cơn đau lan xuống cánh tay thì có thể tổn thương đã chèn ép lên rễ dây thần kinh cột sống.
Nếu chủ quan không điều trị, về lâu dài bệnh nhân có thể bị biến chứng vẹo, gù cột sống và nếu có chèn ép rễ dây thần kinh cột sống kéo dài sẽ gây yếu cơ, teo cơ ở tay hoặc chân.
Chỉ phẫu thuật khi tổn thương chèn ép nặng
Gai cột sống hiếm khi can thiệp ngoại khoa, trừ trường hợp bệnh nhân bị biến chứng gây thoát vị đĩa đệm nặng, tổn thương gây chèn ép rễ dây thần kinh. Lúc này phải phẫu thuật để giải phóng chèn ép, chỉnh hình lại…
Để hạn chế bị gai cột sống cũng như thoái hóa khớp và cột sống nói chung, không nên vận động, bưng vác quá sức; khi bê nhấc vật nặng, tránh cúi gập lưng. Không nên ngồi lâu trong tư thế không dựa lưng, thiếu điểm tựa. Các bài tập thể dục cột sống cổ, thắt lưng hay những môn thể thao nhẹ nhàng như đi bộ, bơi lội sẽ hữu ích, giúp làm chậm quá trình thoái hóa cột sống.
Cần cố gắng giữ cân nặng lý tưởng, bởi các nghiên cứu cho thấy những người tăng cân, béo phì có nguy cơ bị các bệnh lý thoái hóa cao hơn bình thường.
Đau lưng không chỉ là biểu hiện của bệnh lý gai cột sống mà còn có thể là dấu hiệu của một số bệnh lý nguy hiểm như viêm nhiễm cột sống (do bệnh tự miễn, do vi trùng, do lao), hay loãng xương (làm gãy lún các đốt sống). 
Đau lưng cũng có thể do các bệnh lý ác tính di căn đến cột sống. Bởi vậy, khi bị đau lưng mà kèm theo sốt, sụt cân, thiếu máu, bí tiêu tiểu, yếu tay chân thì đi khám ngay tại các cơ sở y tế để được chẩn đoán, điều trị kịp thời.




Đối phó với chứng đau nhức xương khớp ở người cao tuổi

Chứng đau nhức xương, khớp gặp chủ yếu ở người trưởng thành, đặc biệt ở người cao tuổi (NCT).

Bệnh đa phần không gây nguy hiểm nhưng thường dai dẳng làm cản trở các sinh hoạt thường ngày và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe NCT.

Thủ phạm chính gây đau nhức xương khớp là gì?
NCT bị đau nhức xương, khớp là do xương, khớp bị viêm, bị loãng xương, bị chấn thương hoặc do thiếu máu đến nuôi dưỡng tạm thời hoặc trường diễn. Trong đó, viêm khớp là hiện tượng đau nhức khủng khiếp, ngoài ra còn bị sưng nề, bầm tím ở các khớp làm cho đi lại, cử động khó khăn. 

Các nguyên nhân này có thể đưa đến thoái hóa khớp. Thoái hóa khớp có thể do lão hóa của sụn khớp, quá trình phá hủy sụn nhiều hơn là tái tạo sụn làm cho sụn mỏng dần và gây đau đớn đặc biệt khi vận động, thay đổi tư thế, khi thời tiết thay đổi nhất là lạnh. 

Bởi vì lạnh sẽ làm cho mạch máu tại các vùng da co lại, máu đến các khớp xương bị hạn chế hoặc rất ít làm cho thiếu máu nuôi dưỡng khớp, các màng hoạt dịch và sụn khớp gây kích thích làm đau nhức. Một nguyên nhân nữa là loãng xương, do thiếu canxi, vitamin D hoặc do dùng một số loại thuốc. 

Loãng xương gây đau nhức các đầu xương, mỏi dọc các xương dài và đau nhức như châm kim khắp toàn thân, thường tăng về đêm. Loãng xương cũng gây đau cột sống, đau dây thần kinh liên sườn. Người bệnh luôn có cảm giác lạnh hoặc ớn lạnh, hay bị chuột rút (vọp bẻ), thường ra mồ hôi. 

Đau nhức xương, khớp còn có thể do bệnh Paget xương (bệnh viêm xương biến dạng), gặp chủ yếu ở nam giới có tuổi cao. Bệnh Paget gây đau nhức trong xương hoặc khớp xương. Đau nhức xương cũng có thể do thừa cân, béo phì bởi trọng lực của cơ thể có tác động mạnh vào xương, khớp xương gây đau. 

Ngoài ra còn do nằm ngủ sai tư thế gây thiếu máu đến nuôi màng hoạt dịch, gân, cơ, xương khớp bởi mạch máu bị chèn ép. Đau nhức xương khớp ở người cao tuổi thường rất dai dẳng (nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm), đặc biệt là nó gây mệt mỏi làm người bệnh ngại vận động, chỉ muốn nằm, ngủ hay nghỉ ngơi, do đó sẽ làm xuất hiện các bệnh khác kèm theo.

Loãng xương là nguyên nhân chính gây đau nhức xương khớp ở người cao tuổi

Hậu quả do đau nhức xương khớp gây ra
Người bệnh cảm giác chân, tay tê buốt, đau nhức lưng, đầu gối, bàn tay, ngón tay khiến cho NCT gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống và luôn cảm thấy buồn phiền. 

Một số trường hợp đau tức ngực do đau dây thần kinh liên sườn bởi thoái hóa cột sống lưng làm cho người bệnh nhầm tưởng mắc bệnh tim mạch (thiểu năng mạch vành) hoặc bệnh phổi nên càng hoang mang, lo lắng. 

Điều đáng nói là càng bị đau nhức xương, khớp thì người bệnh càng sợ cử động dẫn đến các khớp trở nên tê cứng, khó cử động và bệnh càng ngày càng nặng thêm.
Cần làm gì khi bị đau nhức xương khớp?
Khi bị đau nhức khớp, NCT nên đi khám bệnh, tốt nhất là khám chuyên khoa khớp để xác định nguyên nhân và có chỉ định điều trị sớm. Khi có dấu hiệu đau nhức xương khớp, tê, mỏi xảy ra (nhất là khi ngủ dậy) ở vị trí nào thì hãy làm nóng vùng xung quanh vị trí đó bằng cách thoa dầu (dầu gió, cao sao vàng...). 

Với động tác này có thể làm cho các mạch máu nuôi dưỡng xương khớp, bao hoạt dịch, gân cơ giãn ra, máu dễ dàng đi đến nuôi các khớp làm giảm đau. Khi thời tiết thay đổi cần mặc ấm để tránh lạnh các xương khớp. 

Cần ăn uống hợp lý để tránh béo phì, thừa cân. Cần bổ sung đầy đủ các vi chất cần thiết. Nên ăn các loại thực phẩm giàu axit béo omega-3 (thường có trong các loại hạt); các loại quả như cam, ớt đỏ, cà chua... chứa nhiều vitamin C cũng có thể giúp làm giảm, ngăn chặn sự mất sụn và giảm đau ở người cao tuổi. Các chuyên gia về xương khớp đều thống nhất, hoạt động cơ bắp là phương pháp then chốt để phòng ngừa các bệnh ở cơ quan vận động của cơ thể. 

Vì vậy, cần tập luyện, vận động đúng mức, phù hợp với tình trạng sức khỏe, tránh các tư thế xấu trong lao động, sinh hoạt và tránh các động tác gây hại cho khớp (động tác quá mạnh, đột ngột và sai tư thế khi mang vật nặng). 

Đi bộ hằng ngày là phương pháp dễ thực hiện nhất. Trong quá trình đi bộ, do bàn chân tiếp xúc với mặt đất tạo ra những kích thích có tác dụng tăng cường sức sống ở các tế bào xương, khả năng vận động ở các khớp, làm cho cơ bắp mạnh lên, giúp cho cơ thể duy trì thế cân bằng tốt hơn. 

Ngoài ra, có thể tham gia các hoạt động thể thao khác như bơi, đi xe đạp giúp cho sự duy trì chức năng ở các xương - khớp được tốt. Với người bị loãng xương, cần bổ sung canxi và vitamin D theo đơn của bác sĩ khám bệnh.


Bí quyết giảm đau cột sống cho dân văn phòng

Các bài tập cột sống thắt lưng được áp dụng cho các bệnh nhân đau thắt lưng mạn tính hoặc để dự phòng đau thắt lưng tái phát do thoái hóa đĩa đệm hoặc thoát vị đĩa đệm nhẹ và vừa.
Có bài tập có tác dụng làm giãn cột sống, tác dụng tương tự như kéo giãn cột sống thắt lưng. Có bài tập làm mạnh các cơ thành bụng và khối cơ lưng, giúp giữ vững cột sống thắt lưng. Các bài tập đều có tác dụng tăng cường dinh dưỡng cho đĩa đệm, phục hồi chức năng vận động của cột sống.
Những người do nghề nghiệp phải ngồi lâu một tư thế, đứng lâu, ít vận động thì tập luyện hàng ngày là biện pháp tốt nhất, hợp với sinh lý nhất để có một cột sống khỏe mạnh, dẻo dai. Với những người cao tuổi, phụ nữ sau mãn kinh, tập luyện còn làm giảm được bệnh lý loãng xương.
Nguyên tắc khi tập luyện
Cần khởi động nhẹ nhàng trước khi thực hiện bài tập như chạy tại chỗ, tập vài động tác thể dục buổi sáng.
Khi áp dụng một bài tập nào đó thì trong quá trình tập cũng như sau tập, người bệnh phải cảm thấy dễ chịu, không đau tăng. Nếu thấy đau tăng, cần điều chỉnh lại kỹ thuật của bài tập, có thể do vận động nhanh, đột ngột hoặc vận động quá tầm có thể chịu đựng. Nếu sau điều chỉnh vẫn thấy đau tăng cần ngừng bài tập đó.
Các động tác trong bài tập cần được làm từ từ, không được làm nhanh, mạnh hay đột ngột. Tập theo những giới hạn mà cơ thể người tập có thể làm được. Nếu không làm được đầy đủ một động tác thì làm một nửa hoặc ít hơn, rồi tăng dần.
Một lần tập nên kéo dài 30 phút đến 1 giờ, kể cả thời gian thư giãn. Kết thúc buổi tập, cần thư giãn ít nhất 10 phút ở tư thế nằm thoải mái hoặc lặp lại các động tác khởi động như trước buổi tập. Tập hàng ngày, mỗi ngày 1 - 2 lần, một tuần ít nhất tập 5 ngày, một đợt ít nhất 2 tháng.
Dưới đây là các bài tập trong tháng đầu tiên để bạn đọc tham khảo có tác dụng làm giãn cột sống và làm mạnh khối cơ lưng:
Bài tập 1 (con châu chấu)
Người tập nằm sấp trên sàn, mặt nghiêng về một bên, hai tay xuôi theo người, bàn tay úp xuống mặt sàn, hai chân khép, thở đều.
Từ từ hít vào và nâng chân phải lên trong khi chân phải vẫn giữ thẳng, nâng càng cao càng tốt. Chân trái vẫn duỗi thẳng và sát mặt sàn, cột sống lưng hơi ưỡn về phía trước. Thời gian từ lúc bắt đầu nâng chân đến khi nâng tối đa khoảng 5 giây.
Nín thở và giữ ở tư thế này khoảng 5 giây.
Từ từ thở ra và hạ chân phải xuống mặt sàn, động tác này kéo dài khoảng 5 giây.
Nghỉ khoảng 5 giây, thở đều rồi làm lại động tác trên với chân trái. Mỗi động tác làm 5 lần luân phiên chân phải rồi chân trái, tổng cộng 10 lần.
Bài tập 2 (con bọ cạp)
Tư thế nằm sấp như bài tập 1.
Hai chân khép, từ từ hít vào và nâng hai chân lên khỏi mặt giường càng cao càng tốt, hai chân vẫn thẳng, bàn và ngón chân duỗi, cột sống thắt lưng cong ưỡn về phía trước. Thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.
Nín thở và giữ ở tư thế này khoảng 5 giây.
Từ từ thở ra và hạ hai chân xuống sát mặt sàn, thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.
Nằm thư giãn 10 giây, thở đều rồi làm lại động tác trên 10 lần.
Bài tập 3 (con thằn lằn)
Nằm sấp trên sàn, hai bàn tay úp sấp đặt trên sàn ngang hai vai. Hai khuỷu tay co và khép sát người, hai chân duỗi thẳng, đặt cằm trên sàn nhìn thẳng về phía trước.
Từ từ hít vào chậm và sâu, đẩy tay nâng nửa thân người phía trên lên, ưỡn đầu và ngực tối đa để phần trên rốn trở lên được nâng lên. Ở tư thế này, bàn chân được duỗi căng hết mức, mũi bàn chân không nhấc khỏi sàn, cột sống thắt lưng cong ưỡn về phía trước. Thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.
Nhìn lên trần, nhịn thở, giữ ở tư thế này khoảng 5 giây.
Từ từ thở ra chậm và hạ đầu xuống dần, tựa má xuống sàn. Thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.
Toàn thân thả lỏng, thư giãn, thở đều khoảng 5 giây rồi lặp lại bài tập trên 10 lần.
Bài tập 4 (cầu vồng)
Nằm ngửa trên sàn, hai tay xuôi theo người, bàn tay úp xuống mặt sàn, hai chân duỗi thẳng khép sát nhau, thở đều.
Co hai chân để hai cẳng chân vuông góc với mặt sàn, từ từ hít vào và nâng mông lên tối đa, chỉ còn hai bả vai, đầu và hai bàn chân tiếp xúc với mặt sàn. Động tác này kéo dài khoảng 5 giây.
Giữ ở tư thế hình cầu vồng như trên khoảng 5 giây và nín thở.
Từ từ thở ra và hạ mông xuống sát mặt sàn, thời gian làm động tác khoảng 5 giây.
Thở đều, duỗi thẳng chân, thả lỏng, thư giãn 5 - 10 giây rồi lặp lại bài tập trên 10 lần.



Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Điểm mặt những bệnh phụ khoa ẩn sau cơn đau lưng

Bình thường, mỗi khi đau lưng, chúng ta thường cho rằng là do đau mỏi cơ, xương. Đây là nguyên nhân phổ biến gây đau lưng ở nhiều người. Tuy nhiên, một số người bị các bệnh phụ khoa cũng có thể gặp triệu chứng đau lưng. Những bệnh phụ khoa gây đau lưng bao gồm:

đau lưng do bệnh phụ khoaMột số người bị các bệnh phụ khoa cũng có thể gặp triệu chứng đau lưng. Ảnh minh họa

- Bệnh viêm vùng chậu (PID): Viêm vùng chậu có thể gây tổn thương của các cơ quan bên trong khiến cho vùng lưng cùng bị đau. Nếu không được điều trị kịp thời và chính xác, bệnh sẽ gây ra một loạt các biến chứng, chẳng hạn như vô sinh, thai ngoài tử cung, đau vùng chậu và bệnh viêm vùng chậu mãn tính... 

- U xơ tử cung: U xơ tử cung là khối u lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ từ 30-50 tuổi. Những triệu chứng đầu tiên của UXTC là chảy máu kinh bất thường - nặng hơn hoặc kéo dài hơn, giao hợp đau, triệu chứng thiếu máu (do mất nhiều máu kinh); tiểu khó hoặc tiểu lắt nhắt do khối u xơ chèn ép lên bàng quang; tăng áp lực vùng chậu... Bệnh có thể chuyển sang đau vùng chậu mãn tính, cũng có thể gây ra đau thắt lưng.

- Ung thư cổ tử cung: Ung thư cổ tử cung là bệnh lý phụ khoa ác tính phổ biến nhất. Khi bị ung thư cổ tử cung, bệnh nhân bị đau lưng là do các tế bào ung thư xâm lấn có thể gây ra tắc nghẽn niệu quản, ứ nước, nhiễm độc. Ngoài ra, ung thư buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung, khối u vùng chậu cũng có liên quan đến các dây thần kinh, đè nén vùng bụng và gây đau thắt lưng.

- Viêm cổ tử cung: Các bệnh lý về âm đạo có thể ăn sâu vào trong cổ tử cung, gây xói mòn cổ tử cung, polyp cổ tử cung. Phụ nữ bị bệnh viêm cổ tử cung ngoài triệu chứng tiết dịch âm đạo bất thường, đau bụng thì còn kèm với đau lưng.


Nhận biết khớp gối bị thoái hóa

Thoái hóa khớp gối còn do khớp biến dạng bẩm sinh và béo phì. Nhận biết sớm những dấu hiệu của thoái hóa khớp gối sẽ giúp việc điều trị đạt hiệu quả cao.
Chụp X-quang để phát hiện
Đặc điểm của xương đầu gối khi bị thoái hóa này là lớp sụn bao bọc đầu xương bị thoái hóa, bong rộp từng mảng, lộ phần xương ra. Lớp sụn khớp ở khớp gối có có chức năng như một lớp đệm giữa hai đầu xương. Khi nó bị hư hỏng thì hai đầu xương sẽ cọ xát nhau khi cử động. Hậu quả là các triệu chứng đau, sưng, hình thành gai xương và giới hạn cử động khớp.
Sụn chêm cũng bị thoái hóa, mỏng, tưa và nham nhở do bị xơ hóa. Có những trường hợp nặng mất luôn cả sụn chêm.
Chụp X-quang khớp gối sẽ thấy khe khớp hẹp lại vì lớp sụn khớp đã bị mòn hay mất đi. Hình ảnh đầu xương thường bị loãng, đồng thời trục khớp bị lệch, biến dạng vẹo trong hay vẹo ngoài.
Mặt khớp gối bị lồi lõm bất thường. Có những gai xương và sụn khớp rải rác hai bên và trong khớp. Tùy theo mức độ bệnh mà sẽ có những hình ảnh X-quang tương ứng.
Nhận biết khớp gối bị thoái hóa
Triệu chứng của gối khi bị thoái hóa
Đau là triệu chứng đầu tiên khi bị thoái hóa khớp gối, đặc biệt khi đi đứng và khi ngồi xổm đứng dậy, khi ngồi nghỉ thì ít đau hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp lớp hoạt mạc bị viêm thì ngồi nghỉ cũng đau do phản ứng viêm khớp. Cơn đau cũng có thể lan dọc theo bờ trong xương chày.
Nhiều người còn bị những cơn đau ở mặt trong gối, nơi bám của gân cơ chân, ấn vào đây khiến người bệnh đau chói. Cảm giác đau giống như bị rút gân. Triệu chứng này xảy ra vì thoái hóa khớp gối có thể gây ra biến chứng co rút do mất cân bằng lực quanh khớp gối. Người bệnh không thể duỗi uỡn thẳng gối được. Gối bị co rút dần theo kiểu gối gấp nếu bệnh kéo dài. Có thể đưa lọt bàn tay hay nắm tay qua dưới khoeo dù người bệnh đã duỗi gối hết sức.
Một số bệnh nhân không đau mà chỉ có sưng do viêm hoạt mạc làm tăng tiết dịch viêm vào khớp. Sưng gây cảm giác căng tức, khó chịu, đôi khi gây hạn chế tầm vận động của khớp gối, thường là động tác gấp gối (ngồi xổm).
Duỗi gối và gấp gối không hoàn toàn, đau nhức khi đi, biến dạng lệch gối là những nguyên nhân gây ra dáng đi khập khiễng của người bệnh. Người bị bệnh thoái hóa khớp gối cũng gặp khó khăn trong động tác ngồi xổm cũng ảnh hưởng nhiều cho người bệnh trong sinh hoạt hàng ngày.
Khi có dấu hiệu cảnh báo thoái hóa khớp, người bệnh nên sớm đi thăm khám bác sĩ, chẩn đoán bệnh kịp thời và áp dụng các liệu pháp phục hồi xương khớp. Bệnh có thể điều trị bằng liệu pháp dinh dưỡng, tập luyện và thay đổi các thói quen có hại cho khớp nếu được phát hiện sớm.


7 bài thuốc dân gian trị đau lưng siêu hiệu quả


Đau lưng sẽ làm trì trệ mọi hoạt động trong công việc và khiến cơ thể mệt mỏi hơn. Điều trị đau lưng bằng những cây cỏ thiên nhiên dường như đang được nhiều người áp dụng rất hiệu quả.
Đau lưng có thể xảy ra do một số nguyên nhân như: tư thế làm việc, ngủ nghỉ không đúng gây chèn ép cơ xương, do thời tiết thay đổi, do mang thai, tuổi tác...

Trong một vài trường hợp đau lưng lại là biểu hiện của bệnh lý nguy hiểm nhưthoát vị đĩa đệm, viêm xương khớp...
7 bài thuốc dân gian chữa đau lưng siêu hiệu quả
Đau lưng nếu không được điều trị dứt điểm có thể sẽ gây ra teo cơ, teo chân, thậm chí là tàn phế

Dưới đây là một số bài thuốc dân gian trị đau lưng vô cùng hiệu quả
Lá tướng quân
Dùng Lá cây đại tướng quân, lá ngũ trảo và bồ công anh đem giả nhỏ với ít muối. Xong trộn với ít rượu trắng cao độ (khoảng 40 độ rượu trở lên) xào nóng lên đem đắp vào vùng cột sống bị đau.
Lá lốt
Lá lốt thường được dùng trong các món ăn hàng ngày nhưng theo y học cổ truyền lá lốt có tác dụng giảm đau, chống viêm được dùng chữa đau lưng, nhức mỏi chân tay rất hiệu quả. 

Lá lốt và lá ngải cứu, liều lượng bằng nhau, giã nát, chế thêm giấm, chưng nóng đắp, chờm ngày 2 lần để giảm đau lưng.
7 bài thuốc dân gian chữa đau lưng siêu hiệu quả
Cây xấu hổ
Trong y học cổ truyền cây xấu hổ có vị ngọt, hơi se, tính hơi hàn, có tác dụng trấn tĩnh, an thần, chống viêm. Nó được coi là cây thuốc nam chữa đau lưng nhức mỏi xương.

Mỗi ngày dùng từ 15 - 20 rễ cây xấu hổ đã sao vàng uống thay nước sẽ là bài thuốc dân giantrị bệnh đau lưng.
Ớt
Khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng quả ớt có chứa chất capsicain có tác dụng kích thích não tiết ra hóc môn endorphin, có khả năng gây tê và giảm đau. 

Trong y học cổ truyền ớt cũng được dùng để chữa trị đau lưng. Dùng 10 - 15 quả ớt chín, lá đu đủ, rễ cây ớt giã nhỏ có thể cho thêm một chút rượu sau đó xoa bóp chỗ đau.
7 bài thuốc dân gian chữa đau lưng siêu hiệu quả

Gừng tươi

Chất cay trong gừng tươi đã được chứng minh có khả năng chống lại quá trình ôxy hóa, giảm đau tức thời nhất là cơn đau lưng. Dùng 20g gừng tươi, 15g hành củ, 30g bột mỳ sao nóng rồi đáp nên chỗ đau.
Ngải cứu
Ngải cứu có chứa tinh dầu cineol, tricosanol, archly… có khả năng xoa dịu dây thần kinh và thấp khớp và được dùng chữa đau lưng rất tốt. Ngải cứu rửa sạch sao nóng đắp lên chỗ đau.
7 bài thuốc dân gian chữa đau lưng siêu hiệu quả

Rễ cây đinh lăng

Trong y học cổ truyền đinh lăng được ví như "sâm nam" vì nó có tác dụng chữa bệnh rất lớn dùng để thông huyết bổ khí. Rễ cây đinh lăng đã được khoa học chứng minh có chứa tới 13 loại acid amin khác nhau như: lyzin, xytein, vitamin B1… 

Ngoài ra nó còn chứ một số hoạt chất có lợi khác như: saponin trerpe, alcalot. Dùng từ 20 - 30g rẻ đinh lăng sắc uống hàng ngày để trị đau lưng.


Biểu hiện của thoái hóa cột sống thắt lưng

Thoái hóa cột sống thắt lưng là bệnh mạn tính tiến triển từ từ tăng dần gây đau, hạn chế vận động, biến dạng cột sống thắt lưng mà không có biểu hiện viêm.

thoái hóa đốt sống lưng
Thoái hóa cột sống thắt lưng là bệnh mạn tính tiến triển từ từ tăng dần gây đau
Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và đĩa đệm cột sống phối hợp với những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch.
Nguyên nhân
Thoái hóa cột sống là hậu quả của nhiều yếu tố: tuổi cao; nữ; nghề nghiệp lao động nặng; một số yếu tố khác như: tiền sử chấn thương cột sống, bất thường trục chi dưới, tiền sử phẫu thuật cột sống, yếu cơ, di truyền, tư thế lao động …
Do tình trạng chịu áp lực quá tải lên sụn khớp và đĩa đệm lặp đi lặp lại kéo dài trong nhiều năm dẫn đến sự tổn thương sụn khớp, phần xương dưới sụn, mất tính đàn hồi của đĩa đệm, xơ cứng dây chằng bao khớp tạo nên những triệu chứng và biến chứng trong thoái hóa cột sống.
Biểu hiện của bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng
Phần lớn bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng là do những tổn thương của đĩa đệm gây nên. Tùy thuộc vào mức độ hư đĩa đệm mà có các biểu hiện như:
- Đau lưng xuất hiện đột ngột sau chấn thương, vận động quá mức, hoặc sau khi bị mắc mưa, bị lạnh.
- Đau ở phần cột sống thắt lưng, đau nhiều nên cúi không được, ngồi xuống không đứng lên ngay được.
- Đau dữ dội, hoặc âm ỉ làm hạn chế vận động, đứng vẹo qua một bên.
- Đau tăng xuất hiện khi vận động, thay đổi thời tiết, ho hay trở mình cũng đau. Thường xuất hiện từng đợt kéo dài rồi giảm và hết, sau đó lại xuất hiện đợt khác sau khi vận động nhiều ở khớp và quanh khớp, kết hợp với tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của cột sống.
- Kèm theo co cứng cơ cạnh cột sống.