Bệnh tự miễn dịch là bệnh mà những tổn thương bệnh lý gây ra do sự đáp ứng miễn dịch chống lại các tổ chức, cơ quan của bản thân mình
Các biểu hiện ở khớp là triệu chứng thường gặp của bệnh tự miễn, đặc trưng nhất là bệnh luput ban đỏ hệ thống.
Vì sao chúng ta mắc bệnh tự miễn?
Bệnh tự miễn dịch là bệnh mà những tổn thương bệnh
lý gây ra do sự đáp ứng miễn dịch chống lại các tổ chức, cơ quan của bản
thân mình. Nói cách khác là trong cơ thể người bệnh xuất hiện những tự
kháng thể chống lại các thành phần của các bộ phận trong cơ thể gây nên
tổn thương ở các bộ phận đó. Ngoài bệnh luput ban đỏ hệ thống, các bệnh
khác trong nhóm này bao gồm: xơ cứng bì toàn thể, viêm da và cơ hay viêm
đa cơ, viêm nút quanh động mạch. Các bệnh này có những đặc điểm chung
là có tổn thương ở rất nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể.
Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh cho đến nay vẫn chưa
rõ ràng. Một số giả thuyết cho rằng có một quá trình nhiễm khuẩn tiềm
tàng (vi khuẩn, virut) tác động trên một cơ địa nhất định: bệnh thường
xảy ra ở phụ nữ trẻ, trung niên, một số trường hợp bệnh có tính chất gia
đình. Trong nhóm bệnh tự miễn (còn gọi là bệnh hệ thống) thì bệnh luput
ban đỏ hệ thống là bệnh hay gặp nhất, có biểu hiện vô cùng đa dạng và
có thể nhầm với rất nhiều bệnh khác nhau.
Bệnh gây ra tổn thương khớp và nhiều cơ quan khác
Tổn thương khớp ở bệnh tự miễn.
Những biểu hiện cơ xương khớp rất phong phú, từ đau
mỏi khớp, đau xương đến viêm khớp, tràn dịch khớp, hoại tử xương...Viêm
khớp có đặc điểm gần giống như bệnh viêm khớp dạng thấp nhưng bệnh có
đặc điểm khác là hầu như không có tổn thương bào mòn đầu xương, dính
khớp trên phim Xquang như trong bệnh viêm khớp dạng thấp.
Ngoài các biểu hiện ở khớp, bệnh nhân còn có nhiều
triệu chứng như tổn thương ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng
đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh
sáng); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn
dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận
hư, suy thận); tổn thương tâm thần, thần kinh; tổn thương cơ quan tạo
máu (giảm 1 hay 3 dòng tế bào máu)... Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể,
ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức
dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ
phổi... Các bệnh khác trong nhóm như viêm đa cơ, da và cơ, viêm nút
quanh động mạch ít gặp hơn hai bệnh kể trên. Ngoài các xét nghiệm thường
quy, người ta phải tiến hành các xét nghiệm về miễn dịch để tìm các
kháng thể kháng nhân, kháng histon...
Chung sống với bệnh ra sao?
Rất ít trường hợp bệnh khỏi hẳn. Đa số là bệnh có
thể thuyên giảm và ổn định khi tuân thủ tốt chế độ điều trị và phối hợp
tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Nếu không điều trị tốt, bệnh nặng dần
khi tổn thương các cơ quan quan trọng như thận, não, tim, thần kinh...
Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức
chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamid, methotrexat; thuốc chống
sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng
cao thể trạng... Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải
có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc
cho thích hợp.
Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ
ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung
chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm
khuẩn răng miệng.
Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì
phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc quần áo bằng chất liệu chống nắng,
dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài.
Về sức khoẻ sinh sản, người bệnh chỉ có thể mang
thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh
có xu hướng nặng lên khi mang thai, do đó khi có thai cần có sự phối hợp
chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.
Theo TS. Đào Hùng Hạnh - Sức khỏe & Đời sống
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét