Ngoài các biểu hiện ở cơ quan sinh dục thì các biểu hiện cơ xương khớp là những triệu chứng thường gặp nhưng ít được người bệnh chú ý đến.
Các bệnh lý gây nên bởi các vi khuẩn, vi rút lây truyền qua đường tình dục (Sexually transmitted Diseases-STD) ngày càng tăng nhát là lứa tuổi trẻ. Vì nhiều người cho rằng các biểu hiện ở các cơ quan cơ xương khớp ít hoặc không liên quan đến nhau nên còn chủ quan.Một lý do nữa là người bệnh thường e ngại, dấu bệnh, không kể đầy đủ bệnh sử cho thầy thuốc nên nhiều trường hợp người bệnh đã không được chữa trị đúng và kịp thời, để lại những hậu quả nặng nề, tốn kém tiền của cho người bệnh và xã hội.
Có nhiều vi khuẩn, vi rút lây theo đường tình dục gây nên viêm khớp, bài viết này chỉ xin giới thiệu với các bạn đọc hai loại viêm khớp thường gặp: một bệnh có biểu hiện cấp tính (viêm khớp do lậu cầu) và một loại có tính chất bán cấp (viêm khớp do Clamydia trachomatis) để giúp các bạn phòng tránh bệnh hiệu quả.
1. Viêm khớp do lậu
Nguyên nhân gây bệnh: Vi khuẩn lậu (Neisseria
Gonorrhoea) có hình cầu,
trực tiếp gây
viêm khớp và
có thể phân lập
được ở trong dịch khớp. Bệnh thường xuất hiện ở người trẻ (20-40 tuổi), có quan hệ giới tính với những bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn lậu cầu mà không sử dụng các biện pháp phòng vệ (bao cao su...), có nhiều bạn tình, quan hệ với gái mại dâm...
Cần lưu ý rằng không phải cứ nhiễm lậu cầu là có viêm khớp, chỉ có 30-50% trường hợp nhiễm lậu cầu có viêm khớp thực sự.
Do đó cần phải khai thác kỹ về quan hệ tình dục của người bệnh để có chẩn đoán chính xác đặc biệt quan hệ ngoài hôn nhân của người bệnh vì đây thường là đường vào của vi khuẩn.
Triệu chứng của bệnh
- Biểu hiện khớp: Bệnh
nhân có biểu
hiện viêm khớp cấp
tính một
khớp với đầy đủ các
triệu chứng như khớp sưng nóng đỏ đau rõ rệt, tràn dịch khớp, hạn
chế vận động khớp nhiều xuất hiện sau quan hệ tình dục từ vài giờ đến vài ngày.
Khớp tổn thương thường là khớp
lớn như khớp gối, cổ tay, cổ chân... Đôi khi có viêm một vài khớp hoặc chỉ đau
khớp thoáng qua hoặc viêm
các điểm bám tận của
gân vào các đầu xương (đau quanh
gối, xương gót).
- Ngoài biểu hiện tại khớp,
viêm khớp do lậu còn có các biểu
hiện toàn thân
như sốt nhẹ,
ít khi sốt
cao, tổn thương ở ngoài da dưới dạng
mụn mủ, ở giữa mụn có các đốm hoại tử.
Biểu hiện ở cơ quan sinh dục khác nhau giữa nam và nữ : Nhiễm lậu cầu ở nữ giới thường kín đáo, ít triệu chứng, có thể thấy
khí hư dạng dịch mủ
màu trắng hoặc vàng, có
mùi hôi.
Ngược
lại ở nam giới thường có biểu hiện rõ ràng như có dịch dạng
mủ trắng chảy ra từ miệng sáo của dương vật vào buổi sáng ngay sau khi ngủ dậy
hoặc bóp nhẹ vào dương vật sẽ thấy dịch chảy ra (dấu hiệu giọt sương ban mai,
tương đối điển hình cho viêm niệu đạo do lậu),
đái buốt, đái rắt. Lấy dịch
này đem xét nghiệm sẽ tìm thấy vi khuẩn
lậu cầu.
Xét nghiệm: Xét nghiệm máu ngoại vi thấy một tình
trạng nhiễm khuẩn nói chung như số lượng
bạch cầu tăng, chủ yếu là bạch cầu đoạn
trung tính, tốc độ máu lắng tăng.
Các
xét nghiệm dịch khớp sẽ thấy dịch khớp
thường màu vàng,
đục, đôi khi dịch khớp có mủ đục
như nước vo gạo, độ nhớt giảm, bạch cầu
tăng với bạch cầu đoạn trung tính thoái
hóa.
Chụp Xquang khớp thường bình thường ít khi có các tổn thương hẹp khe khớp,
huỷ xương về hai đầu xương đối diện như viêm khớp do các vi khuẩn sinh mủ
khác.
Xét nghiệm dịch mủ từ đường sinh
dục hoặc chọc
hút dịch khớp
có thể phân lập
được vi khuẩn lậu cầu từ đường sinh dục trong 50-80% trường hợp; và từ
dịch khớp (30%).
Điều trị viêm khớp do lậu cầu như thế nào?
Điều trị viêm khớp do lậu cầu là dùng các kháng sinh
và có thể khỏi được hoàn toàn. Trước kia, kháng sinh dùng điều trị lậu chỉ cần
penicillin là đủ.
Nhưng do tình trạng kháng thuốc ngày càng nhiều với loại vi
khuẩn này, nên thường đổi hỏi phải dùng các kháng sinh nhóm mới hơn, liều cao
hơn như Cephalosporin, Spectinomycin, quinolon... trong 7-10 ngày.
Ngoài ra, có
thể dùng phối hợp các thuốc chống viêm không steroid, giảm đau để làm thuyên giảm
nhanh tình trạng viêm khớp.
Hiếm khi viêm khớp do lậu cầu cần chỉ định chọc hút
dẫn lưu dịch khớp hoặc rửa khớp. Nếu được chẩn đoán sớm và điều trị đúng cách
thì thường không để lại di chứng gì tại khớp.
Song nếu không được điều trị
kháng sinh kịp thời và đúng cách thì có thể để lại các di chứng huỷ khớp, dính
khớp, nhiễm khuẩn huyết...
2. Viêm khớp do clamydia
Viêm khớp do
Clamydia trachomatis là bệnh thường
gặp nhất trong nhóm bệnh viêm khớp
phản ứng có nguồn gốc lây lan từ đường
tiết niệu sinh dục.
Viêm
khớp phản ứng
là một bệnh viêm
khớp vô khuẩn (không
tìm thấy vi khuẩn trong
khớp), xuất hiện sau một nhiễm trùng
ở một cơ quan nào đó trong cơ thể,
chủ yếu là nhiễm khuẩn
hệ tiết niệu
sinh dục và hệ
tiêu hoá.
Bệnh có mối liên quan đến yếu
tố kháng nguyên hòa hợp tổ chức
HLA-B2, thường gặp ở người
trẻ, không có sự
khác biệt về giới. Biểu hiện bệnh đa dạng,
mang tính chất hệ thống chứ không chỉ giới
hạn ở tổn thương khớp.
Lâm sàng:
- Triệu chứng
ở khớp: viêm một hoặc vài khớp chủ yếu
ở chi dưới, không đối xứng, đau thắt lưng nhất là vùng khớp
cùng chậu, xuất
hiện 4-8 tuần sau
quan hệ tình dục với người bị viêm
đường sinh dục-tiết niệu. Có thể có viêm điểm
bám gân như
gân achille, cân
gan bàn chân,
mào chậu
- Ngoài các triệu chứng ở khớp, bệnh còn có các biểu hiện khác như
viêm niệu đạo (hay
gặp ở nam giới), viêm cổ tử cung, âm
đạo ở nữ thường không có triệu chứng.
Biểu hiện ở mắt thường gặp là viêm kết mạc,
viêm võng mạc, có thể giảm thị lực cấp
tính.
Tổn thương
da và niêm mạc hay gặp là: viêm
da và móng,
viêm loét bao
qui đầu, viêm
loét lưỡi, viêm dạ dày, ruột...
Các tổn thương nội tạng như viêm màng ngoài tim, hở động mạch chủ rất hiếm gặp.
Xét nghiệm:
Xét nghiệm máu
có hội chứng
viêm sinh học: bạch cầu trong máu, máu lắng, protein C
phản ứng (CRP) tăng nhất là trong các
trường hợp có viêm khớp ngoại biên.
Xét nghiệm nước tiểu có thể có biểu hiện viêm nhiễm. Lấy dịch niệu đạo, cổ tử cung xét nghiệm để tìm vi khuẩn.
Xét nghiệm huyết thanh,
dịch khớp để
xác định mối
liên quan với Chlamydia
trachomatis. Chụp Xquang
cột sống, khung
chậu, khớp ngoại biên phát hiện các dấu hiệu viêm khớp (khe khớp bị mờ,
hẹp) . Xét nghiệm máu tìm yếu tố HLA-B27.
Chẩn đoán bệnh: Chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và khai thác tiền sử bệnh. Tiên lượng bệnh: nói chung là tốt, thời gian mắc bệnh có thể kéo dài từ vài tuần, vài tháng đến vài năm. Bệnh có thể khỏi hoàn toàn, tuy nhiên có thể hay tái phát.
Điều trị bệnh:
Sử dụng phối hợp các
thuốc chống viêm không
steroid như diclofenac,
piroxicam, meloxicam, các celecoxib... với sulfasalazine cho hiệu
quả tốt.
Kháng sinh thường được dùng
kéo dài nhiều
tháng như nhóm
quinolone, tetracycline..
ngăn chặn bệnh
diễn biến sang mạn tính. Corticoid toàn thân ít hoặc không có
tác dụng nên chỉ dùng để tiêm nội khớp.
Lưu ý kỹ thuật tiêm nội khớp chỉ do bác
sỹ chuyên khoa
chỉ định và thực hiện
trong điều kiện
vô trùng, tránh lạm dụng vì
có thể gây
các tai biến
nhiễm khuẩn, tàn tật...
Một số trường hợp ít đáp ứng
với các biện pháp trên phải phối hợp thêm các thuốc ức chế miễn dịch như Methotrexate,
Azathioprine...
Phòng bệnh chung:
Không quan hệ tình dục với người đang bị viêm nhiễm đường sinh dục-tiết
niệu. Nên sử dụng các biện pháp phòng vệ như bao cao su...
Cần phải điều trị cả
bạn tình và tránh quan hệ tình dục trong thời gian điều trị. Cần uống nước đầy
đủ và giữ gìn vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục trước và sau khi quan hệ tình dục.
Tốt nhất là không quan hệ tình dục ngoài hôn nhân vì khó mà biết được các đối
tượng này có mắc các bệnh hoa liễu nào khác không.
Theo TS. Đào Hùng Hạnh, BV Bạch Mai - Benh.vn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét