Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh thoái hóa khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh thoái hóa khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Thói quen xấu ảnh hưởng khớp




BỆNH LÝ CƠ XƯƠNG KHỚP THUỘC NHÓM BỆNH PHỔ BIẾN VÀ TRONG ĐỜI AI CŨNG CÓ THỂ MỘT LẦN ĐAU NHỨC. VIỆC NHẬN RA CÁC THÓI QUEN XẤU NÀY GIÚP PHÒNG CÁC BỆNH LÝ NÀY VÀ THỜI GIAN DÙNG THUỐC.

Sau đây là các thói quen trong sinh hoạt hằng ngày ảnh hưởng đến hệ cơ xương khớp.
1. Bẻ tay, vặn lưng, cổ quá mức
Việc bẻ khớp ngón tay, vặn lưng, vặn cổ, các khớp hoạt động nhanh đột ngột và quá tầm vận động, dẫn đến việc phá hủy các cấu trúc sụn khớp, cấu trúc dây chằng, xung quanh khớp nên rất có hại cho khớp. 
Nếu không bỏ thói quen này, khớp bị thoái hóa, biến dạng khớp, to khớp ở vùng các ngón tay hay rách dây chằng, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, cột sống thắt lưng, thoát vị nhân đĩa đệm chèn ép rễ thần kinh...
Hình 1
Hình 1
2. Giày cao gót (hình 1)
Giày cao gót giúp tăng chiều cao cơ thể, tạo dáng đẹp. Tuy nhiên, khi mang giày cao gót, các cơ của cột sống thắt lưng, cơ bắp chân ở cẳng chân, gân gót làm việc co thắt liên tục, do vậy rất dễ đau và mỏi. 
Triệu chứng sẽ là đau lưng, đau bắp chân hay đau phần trên của gót chân. Khi các nhóm cơ làm việc quá tải sẽ yếu, không giữ vững được các cấu trúc như cột sống, khớp gối, cổ chân dễ gây chấn thương do té ngã và tổn hại đến hệ khớp.
Bằng việc nâng cao gót chân, toàn bộ trọng lượng cơ thể bình thường chịu lực qua xương gót to và dày thì lại chuyển qua chịu trên xương bàn và các ngón chân vốn dĩ mỏng hơn và nhỏ hơn. Nghiên cứu cho thấy độ cao của đế giày cứ tăng mỗi 2,5 cm thì áp lực lên bàn chân trước tăng 22-25%. 
Do đó mang giày cao 7cm, áp lực xương bàn phải chịu là 175% mức bình thường. Việc này rất dễ gây thoái hóa khớp bàn ngón, nhất là ngón cái.
Mũi giày càng nhỏ hẹp sẽ ép các ngón chân lại với nhau gây vẹo ngón cái ra ngoài, lâu ngày gây biến dạng ngón cái và các ngón khác. Ngoài ra, việc ép các ngón chân ở mũi giày gây chèn ép, tổn thương các nhánh thần kinh gây đau hay phì đại các nhánh thần kinh vùng bàn chân.
Tóm lại, tránh mang giày cao gót quá lâu, khi chọn mua giày không nên chọn đế quá cao, phần mũi giày không nên ép các ngón chân quá chật, chất liệu da giày nên mềm mại và không gây kích ứng.
Hình 2
Hình 2
3. Các thói quen xấu ảnh hưởng đến cột sống 
(hình 2)
- Ngồi không đúng tư thế, ngồi lâu.
- Mang balô nặng, mang túi nặng một bên.
- Đi khom người hay đứng xiêu vẹo.
- Nhặt đồ vật khom lưng hay khiêng vật nặng khom lưng
- Mang vật nặng xoay đột ngột.
Thói quen ngồi lâu, liên tục trên hai giờ làm mỏi nhóm cơ cạnh cột sống khiến chúng ta khòm lưng và cúi ra trước, dẫn đến căng các nhóm cơ và dây chằng phía sau đốt sống. Sự mệt mỏi của hệ thống giữ vững này gây đau và nếu kéo dài làm cột sống không vững, dẫn đến tổn thương các đốt sống, thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống. 
Do đó, chúng ta cần hạn chế ngồi làm việc lâu quá hai giờ. Nên đi lại, tập các bài tập đơn giản về cơ cột sống giúp phòng ngừa đau thắt lưng và mỏi mệt.
Ngoài ra, việc mang balô hay túi nặng một bên khiến cột sống phải nghiêng hẳn một bên, các nhóm cơ hoạt động không đều dễ bị vẹo cột sống, tổn thương đốt sống và dây chằng. Do vậy khi mang túi xách, chúng ta không nên mang quá 10% trọng lượng cơ thể và khi phải mang nhiều hơn, chúng ta mang đều hai tay.
Khi cúi gập ngang hông lưng quá 90 độ, hệ thống dây chằng phía sau căng quá mức có thể bị rách, đĩa đệm chịu lực quá mức có thể lồi ra phía sau gây thoát vị đĩa đệm. Nên hạn chế gập lưng quá mức, nhất là khi nhặt đồ vật rơi. Đặc biệt không nên cúi người khiêng vật nặng. Tư thế đúng trong các việc này là ngồi xuống và thẳng lưng để nhặt đồ vật.
4. Ngồi xổm, leo cầu thang, chéo chân 
hay bó chân
Khớp gối gồm khớp chè đùi và khớp đùi chày, chịu toàn bộ trọng lượng của cơ thể. Khi gối co, áp lực do cơ ở phần đùi và gân bánh chè sẽ ép xương bánh chè trượt trên xương đùi. 
Lúc đi bộ, lực này tác động bằng khoảng 1/2 trọng lượng cơ thể, khi leo cầu thang lực này gấp 3 - 4 lần trọng lượng cơ thể và khi ngồi xổm, lực này gấp 7 - 8 lần trọng lượng cơ thể. 
Do vậy thói quen ngồi xổm tạo áp lực rất lớn phá hủy sụn xương bánh chè và sụn xương đùi gây thoái hóa khớp chè đùi. Tập luyện cơ tứ đầu đùi và tránh thói quen ngồi xổm, hạn chế tối đa lên xuống cầu thang hay khiêng vác lên cầu thang sẽ giúp bảo vệ khớp chè đùi.
5. Uống bia, rượu nhiều
Bệnh chuyển hóa ngày càng nhiều và gặp ở lứa tuổi ngày càng trẻ dần. Bệnh bao gồm rối loạn lipid máu, đái tháo đường, bệnh gout... Bệnh gout ảnh hưởng đến khớp nhiều nhất trong nhóm bệnh này, thường gặp ở những người hay nhậu, uống nhiều bia và ăn nhiều hải sản, nội tạng...


Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Bài thuốc hỗ trợ trị đau nhức xương khớp

Theo y học cổ truyền, tất cả các bệnh có đau nhức ở khớp xương, có sưng nóng đỏ hay chỉ tê, nặng ở tại khớp đều nằm trong phạm trù chứng tý hay bệnh tý.

Tý có nghĩa là tắc nghẽn không thông.
Do sức đề kháng và khả năng tự bảo vệ của cơ thể không đầy đủ, các yếu tố gây bệnh là phong - hàn - thấp cùng phối hợp tác động xâm phạm đến kinh lạc - cơ - khớp, làm cho sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn không thông gây ra sưng đau, hoặc không sưng mà chỉ đau tê mỏi nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.
Do chính khí hư suy vì mắc bệnh lâu ngày, hay do người già các chức năng hoạt động cơ thể bị suy yếu, làm cho khí huyết cũng giảm sút không nuôi dưỡng được cân mạch gây nên tình trạng thoái hóa khớp xương và gây nên đau. 
Vì vậy khi chữa các bệnh về khớp, các phương pháp chữa theo y học cổ truyền đều nhằm lưu thông khí huyết ở cân ở xương, đưa các yếu tố gây bệnh (phong, hàn, thấp, nhiệt) ra ngoài và đề phòng chống lại các hiện tượng báo động sự tái phát của bệnh khớp xương.
Một số bài thuốc hỗ trợ giảm đau nhức xương khớp
Bài 1: Cải bó xôi 60g, nấm hương 180g, muối vừa đủ. Cải bó xôi rửa sạch, thái nhỏ. Nấm hương rửa sạch, bỏ chân. Cho hai thứ trên vào nồi, đổ nước vừa phải đun chín, nêm muối vừa đủ miệng, ngày uống 2 lần. Dùng liền 10 ngày.
Bài thuốc hỗ trợ trị đau nhức xương khớpCải bó xôi.
Bài 2: Câu kỷ tử đỗ trọng, ngũ gia bì 30g, ngâm với 1,5l rượu trắng sau 1 tuần, mỗi tối trước khi đi ngủ uống 25ml, 7 ngày 1 liệu trình.
Bài 3: Gừng tươi 200g, rượu mùi 400ml, đường đỏ 120g. Gừng thái nhỏ, đập dập ép lấy nước. Cho nước gừng, đường đỏ và rượu vào nồi đem đun nhỏ lửa đến khi sôi. Hàng ngày trước khi đi ngủ uống một chút cho ra mồ hôi, uống liền 10 ngày.
Bài 4: Bổ cốt chi 30g, ngâm trong 500ml rượu trắng. Sau 7 ngày chiết ra uống, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 thìa, uống liền 10 ngày.
Bài thuốc hỗ trợ trị đau nhức xương khớpNấm hương.
Bài 5: Ngũ gia bì 100g, gạo nếp 500g. Rửa sạch ngũ gia bì, cho lượng nước vừa đủ ngâm kỹ nấu chín, 30 phút lấy nước một lần. Tất cả lấy hai lần nước. Dùng nước đó nấu cơm nếp, đợi nguội cho men rượu vào trộn đều, để lên men thành bỗng rượu. Mỗi ngày khi ăn cơm ăn một ít, 7 ngày một liệu trình.
Ngoài ra, hàng ngày lấy lá đào tươi, rượu trắng 150ml. Hâm nóng rượu, lá đào dùng tay bóp nát, tẩm rượu rửa chỗ đau. Trước khi đi ngủ rửa một lần.


Làm gì để phòng thoái hóa khớp?

Thoái hóa khớp là chứng bệnh thường gặp nhất trong các bệnh lý của khớp.

Bệnh tiến triển thầm lặng, không có biểu hiện gì cho đến một mức độ tổn thương nhất định của sụn khớp mới gây nên các triệu chứng trên lâm sàng như đau khớp, cứng khớp, dính khớp, teo cơ quanh khớp,... gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí là tàn tật. 
Mặc dù các yếu tố di truyền và lão hóa không thể điều chỉnh được nhưng chúng ta vẫn có thể giảm nguy cơ thoái hóa khớp nếu có tác động tích cực vào các yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống...
Làm gì để phòng thoái hóa khớp?Quá trình thoái hóa khớp.
Truy tìm nguyên nhân
Nguyên nhân thực sự của bệnh thoái hóa khớp vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Các hiểu biết hiện tại cho rằng sụn khớp phải chịu lực quá tải (yếu tố cơ học tấn công trực tiếp lên bề mặt sụn) đồng thời gây nên sự hoạt hoá và sự giải phóng các chất trung gian hoá học (cytokine các enzyme) gây thoái giáng chất cơ bản (yếu tố gây viêm), sau đó gây phá hủy sụn khớp. Tuy nguyên nhân của bệnh chưa biết rõ nhưng người ta đã biết được một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh thoái hóa khớp, đó là:
Yếu tố di truyền: Thoái hoá khớp cũng như nhiều bệnh khác chịu chi phối rất lớn của di truyền, có những chủng tộc người có tỷ lệ thoái hoá khớp cao hơn các chủng tộc khác.
Lão hóa: Các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ giảm khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi colagen và chất cơ bản của sụn làm cho chất lượng của sụn, tính đàn hồi, tính chịu lực bị giảm sút. Nói cách khác, thoái là hậu quả của quá trình lão hoá của sụn khớp, do đó tần số mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Với tuổi thọ trung bình ngày càng cao đồng nghĩa với số bệnh nhân bị bệnh thoái khớp ngày càng nhiều.
Yếu tố cơ học: Các vi chấn thương tích tụ lại nhiều lần (hiện tượng quá tải) là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hoá tăng nhanh. 
Hiện tượng quá tải hay gặp trong trường hợp như tư thế làm việc không hợp lý; tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp đặc biệt là các chấn thương thể thao như khớp bàn tay, khớp khuỷu tay của công nhân vận hành búa máy, khoan cắt bê tông; khớp cổ chân của diễn viên balê; đĩa đệm cột sống của vận động viên cử tạ...
Yếu tố dinh dưỡng: Thừa cân, béo phì gây quá tải nên sụn khớp, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, thiếu chất khoáng (mangan, zinc), một số vitamin làm ảnh hưởng đến chất lượng của sụn khớp.
Ngoài ra, các dị dạng bẩm sinh và rối loạn phát triển như loạn sản sụn; trật khớp háng bẩm sinh, biến dạng kiểu chân chữ X, chữ O; gù vẹo cột sống gây ra do những rối loạn làm thay đổi đặc tính của sụn và làm hư hại bề mặt khớp.
Cần làm gì để trì hoãn quá trình thoái hóa khớp?
Vì chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh và bệnh diễn tiến âm thầm không triệu chứng một thời gian dài trước khi bộc lộ đầy đủ trên lâm sàng nên mục đích của phòng bệnh là tác động vào các yếu tố nguy cơ như đã nói trên càng sớm càng tốt. 
Nguyên tắc là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lựợng cuộc sống. Trong các yếu tố cần điều chỉnh thì yếu tố di truyền và yếu tố lão hoá là những yếu tố mà chúng ta không thể điều chỉnh được. 
Ngược lại, các yếu tố còn lại (yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống...) chúng ta có thể điều chỉnh được bằng các biện pháp sau:
Tránh cho khớp bị quá tải: tư thế làm việc hợp lý, không nên làm việc ở một tư thế kéo dài mà nên thay đổi tư thế thường xuyên, nên kết hợp những khoảng nghỉ ngắn 5-10 phút trong khi làm việc; giữ cân nặng ở mức hợp lý, giảm cân nếu béo phì; Tập thể dục thường xuyên và vừa sức như bơi lội, đạp xe đạp, đi bộ khoảng 30 -60 phút/ngày, tập dưỡng sinh, tập các động tác tập tăng cường sức mạnh của các cơ quanh khớp, làm giảm lực tác động trên bề mặt sụn.
Phát hiện và điều trị kịp thời các chấn thương do thể thao, do nghề nghiệp, sau đó là sử dụng các biện pháp lý liệu pháp, phục hồi chức năng để khớp trở về trạng thái sinh lý bình thường, tránh diễn biến xấu dẫn đến thoái hoá khớp. Với những người làm nghề có nguy cơ thoái hoá khớp cao thì tìm kiếm các biện pháp thích nghi với điều kiện làm việc, với nguyên tắc là tránh cho khớp ít bị quá tải nhất có thể.
Dinh dưỡng hợp lý: ăn uống đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhất là các chất khoáng, các vitamin như rau quả tươi, giàu các chất chống ôxy hoá.
Phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp như chỉnh lại trục khớp, gọt giũa xương chày trong lệch trục khớp gối, sửa chữa lại các thiểu sản khớp háng bẩm sinh.


Những nguyên nhân thường gặp gây đau lưng

Đau lưng là căn bệnh thường gặp, phổ biến ở nhiều người. Lối sống thiếu vận động đang làm căn bệnh này có xu hướng trẻ hóa.

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau lưng, người bệnh cần tìm đúng nguyên nhân mới trị dứt căn bệnh này.
Đau lưng có thể biến thành những cơn ác mộng ngoài tầm kiểm soát của người bệnh. Nó không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống mà còn tàn phá sức khỏe của mỗi người. Nhiều người bệnh thường bỏ qua triệu chứng đau lưng rất nguy hiểm vì đây có thể là nguyên nhân của một căn bệnh khác ngoài xương khớp. 
Trước khi nghĩ đến việc có thể mắc một căn bệnh nào đó, người bệnh hãy loại bỏ các nguyên nhân hàng đầu gây đau lưng dưới đây.
Qua các nghiên cứu trên lâm sàng và thực tế điều trị, các chuyên gia y tế đã thống kê được 10 nguyên nhân hàng đầu được coi là "thủ phạm" gây ra chứng đau lưng phổ biến.
Những nguyên nhân thường gặp gây đau lưng
Do thương tích hoặc bong gân
Khi bị bong gân hay chấn thương tủy sống người bệnh có thể không cảm thấy đau ngay lập tức. Người bệnh có thể bị đau nhiều sau mang vác nặng, đó có thể do bong gân hoặc giãn dây chằng do chấn thương. Tuy nhiên trên lâm sàng, những vết thương cũ hoặc bị thương dẫn đến bong gân được cho là nguyên nhân phổ biến của chứng đau lưng này.
Bị thoát vị đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm là hiện tượng đĩa đệm bị dịch chuyển ra khỏi vị trí bên trong đốt sống, thường xảy ra sau các sang chấn hoặc trên nền đĩa đệm bị thoái hóa, nứt rách, người bệnh thường xuất hiện chứng đau lưng.
Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kỳ đoạn nào của cột sống, nhưng hay gặp nhất là thoát vị đĩa đệm ở vị trí thấp của lưng, trong trường hợp này sẽ gây ra chứng đau thắt lưng. Nhiều khi thoát vị đè vào dây thần kinh làm đau lan xuống chân.
Không giống như bong gân ở cột sống, người ta có thể cảm thấy loại đau do thoát vị đĩa đệm ngay lập tức. Đau lưng do đĩa đệm thoát vị thường được chẩn đoán thông qua chụp X-quang hoặc MRI.
Những nguyên nhân thường gặp gây đau lưng
Gãy xương
Gãy xương ở cột sống có thể là một trong những nguyên nhân nổi bật của bệnh đau lưng. Tuy nhiên cơn đau do gãy xương thường khác hẳn với đau lưng mạn tính, nó thường có cảm giác đau buốt. Nếu chỉ bị rạn xương sẽ đau âm ỉ kéo dài, người bệnh trẻ tuổi thường bỏ qua triệu chứng này vì nghĩ nó là hậu quả do một tai nạn chẳng hạn. 
Nhưng đối với người lớn tuổi, việc liền xương rất khó và mất thời gian, cần phải bó cố định hoặc bó bột. Những bệnh nhân bị gãy xương ở cột sống thường trở thành bệnh nhân đau lưng mạn tính ngay cả sau khi phẫu thuật hoặc điều trị.
Viêm xương khớp
Viêm xương khớp là một vấn đề thường gặp ở tuổi trung niên, chủ yếu thường xuất hiện ở phụ nữ hơn nam giới. Bệnh có đến hàng chục loại, nhưng chủ yếu là viêm khớp do thoái hóa và viêm khớp do viêm. 
Tình trạng này xảy ra do thoái hóa khớp, dịch khớp đông lại nhất là vào mùa lạnh làm chứng đau khớp, viêm khớp tăng lên. Để điều trị các chứng viêm khớp tùy thuộc vào căn nguyên gây bệnh có thể được bác sĩ cho dùng thuốc, vật lý trị liệu hoặc phải phẫu thuật.
Bài tập giảm đau lưng.Bài tập giảm đau lưng.
Mang thai
Phụ nữ trong kỳ có kinh hoặc có thai thường đau ở vùng thắt lưng là chuyện bình thường. Do áp lực quá mức trên cột sống, đau lưng rất phổ biến với nhiều phụ nữ mang thai đặc biệt là ở giai đoạn cuối của thai kỳ. Ngoài ra các bệnh nhiễm trùng đường ruột, ở thận, niệu quản, bàng quang người bệnh cũng cảm thấy đau lưng cấp hoặc mạn.
Hội chứng đau cơ xơ hoá (Fibromyalgia)
Đây là một yếu tố hàng đầu gây đau lưng, nặng có thể gây đau toàn thân. Hội chứng đau cơ xơ hoá là một tình trạng đau mạn tính trong cơ, dây chằng, gân và các tổ chức phần mềm của cơ thể. 
Đau cơ xơ hoá thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, mất ngủ, hoặc trầm cảm nhưng không có tổn thương thực thể tại cơ, xương, khớp. Đau thường tăng lên sau quá trình làm việc nặng kéo dài, bệnh không ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. 
Hội chứng này hay gặp ở những người mắc các bệnh khớp mạn tính. Để điều trị căn bệnh này, ngoài các loại thuốc giảm đau, giãn cơ, người bệnh có thể được cho đi tập vật lý trị liệu cũng rất hiệu quả.
Béo phì
Nếu bị béo phì, bạn cũng có nguy cơ cao bị đau lưng. Khi lượng chất béo tích tụ ngày càng nhiều trong cơ thể sẽ tạo ra một áp lực lên cột sống, khiến xuất hiện bệnh đau lưng. Biện pháp khắc phục duy nhất cho loại bệnh này là giảm cân. 
Cần duy trì chế độ ăn giảm chất béo, năng vận động để đưa cân nặng về con số thích hợp. Cần lưu ý rằng việc giảm cân đối với người bị béo phì phải từ từ, tránh đột ngột vì nếu giảm cân quá mức lại khiến đau lưng tăng lên.
Bài tập kéo giãn cơ lưng.Bài tập kéo giãn cơ lưng.
Do lo âu và căng thẳng
Cuộc sống hiện đại làm con người gia tăng các mối lo và căng thẳng. Hơn nữa, lối sống và chế độ ăn uống không đúng cách gây ra nhiều rối loạn về sức khỏe trong đó có cả chứng đau lưng. 
Bệnh thường xảy ra khi các dây thần kinh bên trong cột sống không được cung cấp đủ lượng oxy do căng thẳng quá mức, hay việc sử dụng thuốc giảm đau mà không có tác dụng khiến người bệnh lo lắng, đã đau càng thêm đau.
Ngủ không đúng tư thế
Đôi khi những tư thế ngủ bất thường có thể là một trong những nguyên nhân gây đau lưng. Ví dụ như ngủ nằm úp bụng hay khi ngủ đầu không thẳng với cổ , nó làm cho cột sống phải chịu thêm áp lực. 
Những chứng đau do ngủ sai tư thế chỉ xảy ra tạm thời, nhưng nó sẽ trở thành mạn tính nếu bạn không thay đổi tư thế ngủ của mình. Cách tốt nhất khi ngủ là nằm thẳng lưng, nằm ngửa là tư thế tốt nhất cho hệ xương khớp.
Ngồi quá nhiều
Thói quen ngồi nhiều trong một thời gian dài rất phổ biến nhất là đối với những người làm việc văn phòng. Điều này có thể rất có hại cho sức khỏe và chức năng hoạt động cột sống của bạn. Bạn nên nghỉ ngơi ít nhất 10 phút mỗi giờ và di chuyển xung quanh để tránh mắc bệnh đau lưng.


Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Cách phòng ngừa chứng đau xơ cơ

Hội chứng này chủ yếu gặp ở nữ (70-80%) với độ tuổi trung bình khoảng 40. Căn nguyên gây bệnh hiện chưa rõ ràng, bởi vậy việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn. Các chuyên gia cho rằng 10 quy tắc ăn uống sẽ có thể giúp người bệnh đối phó với những cơn đau mãn tính này.
1. Ăn nhiều thực phẩm tươi
Khoảng một nửa số bệnh nhân đau xơ cơ (ĐXC) cũng bị hội chứng ruột kích thích (đại tràng kích thích, đại tràng co thắt). Một chế độ ăn uống với các loại thực phẩm tươi, không có các chất bảo quản, phụ gia là lời khuyên hữu ích dành cho họ. Lý do là loại thực phẩm này gây kích ứng đường ruột, sẽ kích hoạt cơ thể gửi "tin nhắn" đến não, khởi nguồn của những cơn đau.
cach-phong-ngua-chung-dau-xo-co
2. Không lạm dụng chất kích thích
ĐXC được cho là liên quan đến sự mất cân bằng các hóa chất điều khiển tâm trạng trong não, nó thường đi kèm với mất ngủ và mệt mỏi. Bệnh nhân thường cố gắng giảm bớt mệt mỏi bằng các chất kích thích như cà phê, nhưng về lâu dài, chúng có thể gây hại nhiều hơn là lợi.
3. Nói không với một số loại rau
Thông thường, rau có hàm lượng calo thấp, rất tốt cho sức khỏe, nhưng các loại bạch rau (rau phát triển vào ban đêm) như cà chua, khoai tây, cà tím, ớt… được cho là có hại đối với bệnh nhân viêm khớp. Người ta cho rằng đó là do chúng có chứa một số độc tố bất lợi cho thần kinh.
4. Bổ sung omega-3
Axit béo omega-3 có trong nhiều loại cá, đặc biệt là cá hồi, được xem là thực phẩm tốt cho tim và có khả năng ngăn ngừa những cơn đau. "Các axit béo rất tốt. Chúng giảm viêm và trợ giúp cho các chức năng não", các nhà khoa học cho biết.
5. Đừng ăn quá nhiều sữa
Trên thế giới, khoảng 70% người lớn không dung nạp lactose (lượng đường trong sữa), vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi các bệnh nhân ĐXC có vấn đề về tiêu hóa các sản phẩm sữa.
Năm 1998, sau khi lấy mẫu máu của 40 bệnh nhân ĐXC, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy 25% số mẫu máu đã có phản ứng miễn dịch với các sản phẩm từ sữa bò.
6. Cắt giảm đường
Khoảng 90% bệnh nhân ĐXC bị suy giảm chức năng thượng thận, có thể dẫn đến hạ đường huyết. Điều đáng ngại là những người này thường thèm đường. Lời khuyên dành cho họ là hãy thay thế đường bằng một hỗn hợp protein và chất béo.
7. Hạn chế chất tạo ngọt
Các chất tạo ngọt nhân tạo có nhiều trong soda và kẹo không đường. Nó là một phần trong nhóm hóa chất gọi là excitotoxins, kích hoạt tế bào thần kinh và làm tăng nhạy cảm với những cơn đau. Một số chất ngọt nhân tạo, nhất là sorbitol và xylitol có thể gây ra hội chứng ruột kích thích.
8. Nói không với thức ăn nhanh
Ngoài việc chúng sẽ khiến bạn tăng cân nhanh, những thực phẩm này có thể kích thích cơ bắp, làm gián đoạn giấc ngủ và có hại với hệ thống miễn dịch.
Thử nghiệm với chế độ ăn uống cắt giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn các thực phẩm này trong vài tuần sẽ cho bạn câu trả lời chính xác nhất.