Hiển thị các bài đăng có nhãn khô khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khô khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Cách khắc phục đau nhức sau khi ngủ dậy

Đau nhức khắp mình, cứng cổ, tê từ vai xuống bàn tay, đau bên hông sườn... sau khi thức dậy là hậu quả của sự chèn ép mạch máu, gân cơ căng quá lâu do nằm ngủ sai tư thế.

Đau nhức khắp mình, cứng cổ, tê từ vai xuống tận bàn tay hoặc đau bên hông sườn... sau khi thức dậy là hậu quả của sự chèn ép các mạch máu hay gân cơ căng quá lâu do nằm ngủ sai tư thế. 
Tình trạng này hay xảy ra khi cơ thể bị yếu mệt, khi ngồi trước quạt, máy lạnh, bị nắng chiếu vào gáy, gội đầu và tắm vào ban đêm, làm những công việc ít vận động, cảm cúm, viêm nhiễm đường hô hấp trên, mang thai hoặc mới sinh nở, hút thuốc lá... khiến tốc độ hoạt động của hệ tuần hoàn sẽ giảm sút.
Đối với một số trường hợp nhẹ, mới bị, nó giúp giảm đau tức thời thì có thể sử dụng xoa bóp bằng dầu nóng, rượu thuốc, bôi các thuốc chứa methylsalicylate và menthol. Việc xoa bóp đúng cách sẽ giúp giãn cơ và tăng cường máu đến cơ bắp, có thể giảm đau, nhưng cần lặp lại nhiều lần trong vài ngày.
Nếu chỉ làm một hai lần thì cơn đau sẽ xuất hiện trở lại hoặc không hết hoàn toàn. Ngoài ra có thể xông hơi để làm giãn mạch và giãn cơ; đồng thời kích thích hô hấp để tăng nồng độ ôxy trong máu.
Cách khắc phục đau nhức sau khi ngủ dậyĐau nhức sau khi ngủ dậy có thể do ngủ sai tư thế.
Người bệnh nên nghỉ ngơi, hạn chế vận động trong vài ngày; bổ sung thêm một số khoáng chất cho cơ thể như calci, kali và các vitamin C, B... có trong các thực phẩm, rau quả tươi hàng ngày.
Tuy nhiên với những trường hợp mạn tính hay nặng, cách này gần như không có tác dụng.
Ngoài ra, khi bị đau nhức mình mẩy, người bệnh cần tuyệt đối, không thực hiện các động tác xoay vặn. Các động tác này thường làm bệnh nhân đau nhiều hơn và bị hạn chế cử động hơn. Nhất là khi đau cổ, việc cố xoay cổ chẳng những không giảm được cơn đau mà còn gây phản xạ co thắt cơ, khiến cổ cứng hơn.
Không cạo gió dễ gây xuất huyết trong cơ bắp, tạo ra các ổ máu tụ, khiến bệnh nhân bị đau nhức kéo dài. Không tự ý sử dụng thuốc giảm đau: Việc dùng kéo dài các thuốc này chẳng những không có hiệu quả mà còn gây nhiều tác dụng phụ nguy hiểm (như nhóm NSAID gây đau dạ dày).
Do không có hiểu biết về y học, không phân biệt được các dạng đau nhức nên tốt nhất, khi thấy có biểu hiện đau nhức mình mẩy như trên cần tới các cơ sở y tế chuyên khoa để chữa và dùng các phương pháp loại trừ bệnh, tìm nguyên nhân gây đau nhức, tránh những tai biến đáng tiếc.
Để phòng ngừa chứng đau mỏi sau khi ngủ, cần tập thói quen ngủ ở tư thế thoải mái không gối đầu quá cao, nằm nghiêng co quắp; tập thể dục nhẹ nhàng hoặc xoa bóp, chườm nóng trước khi đi ngủ.


Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Làm gì để phòng thoái hóa khớp?

Thoái hóa khớp là chứng bệnh thường gặp nhất trong các bệnh lý của khớp.

Bệnh tiến triển thầm lặng, không có biểu hiện gì cho đến một mức độ tổn thương nhất định của sụn khớp mới gây nên các triệu chứng trên lâm sàng như đau khớp, cứng khớp, dính khớp, teo cơ quanh khớp,... gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí là tàn tật. 
Mặc dù các yếu tố di truyền và lão hóa không thể điều chỉnh được nhưng chúng ta vẫn có thể giảm nguy cơ thoái hóa khớp nếu có tác động tích cực vào các yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống...
Làm gì để phòng thoái hóa khớp?Quá trình thoái hóa khớp.
Truy tìm nguyên nhân
Nguyên nhân thực sự của bệnh thoái hóa khớp vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Các hiểu biết hiện tại cho rằng sụn khớp phải chịu lực quá tải (yếu tố cơ học tấn công trực tiếp lên bề mặt sụn) đồng thời gây nên sự hoạt hoá và sự giải phóng các chất trung gian hoá học (cytokine các enzyme) gây thoái giáng chất cơ bản (yếu tố gây viêm), sau đó gây phá hủy sụn khớp. Tuy nguyên nhân của bệnh chưa biết rõ nhưng người ta đã biết được một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh thoái hóa khớp, đó là:
Yếu tố di truyền: Thoái hoá khớp cũng như nhiều bệnh khác chịu chi phối rất lớn của di truyền, có những chủng tộc người có tỷ lệ thoái hoá khớp cao hơn các chủng tộc khác.
Lão hóa: Các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ giảm khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi colagen và chất cơ bản của sụn làm cho chất lượng của sụn, tính đàn hồi, tính chịu lực bị giảm sút. Nói cách khác, thoái là hậu quả của quá trình lão hoá của sụn khớp, do đó tần số mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Với tuổi thọ trung bình ngày càng cao đồng nghĩa với số bệnh nhân bị bệnh thoái khớp ngày càng nhiều.
Yếu tố cơ học: Các vi chấn thương tích tụ lại nhiều lần (hiện tượng quá tải) là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hoá tăng nhanh. 
Hiện tượng quá tải hay gặp trong trường hợp như tư thế làm việc không hợp lý; tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp đặc biệt là các chấn thương thể thao như khớp bàn tay, khớp khuỷu tay của công nhân vận hành búa máy, khoan cắt bê tông; khớp cổ chân của diễn viên balê; đĩa đệm cột sống của vận động viên cử tạ...
Yếu tố dinh dưỡng: Thừa cân, béo phì gây quá tải nên sụn khớp, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, thiếu chất khoáng (mangan, zinc), một số vitamin làm ảnh hưởng đến chất lượng của sụn khớp.
Ngoài ra, các dị dạng bẩm sinh và rối loạn phát triển như loạn sản sụn; trật khớp háng bẩm sinh, biến dạng kiểu chân chữ X, chữ O; gù vẹo cột sống gây ra do những rối loạn làm thay đổi đặc tính của sụn và làm hư hại bề mặt khớp.
Cần làm gì để trì hoãn quá trình thoái hóa khớp?
Vì chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh và bệnh diễn tiến âm thầm không triệu chứng một thời gian dài trước khi bộc lộ đầy đủ trên lâm sàng nên mục đích của phòng bệnh là tác động vào các yếu tố nguy cơ như đã nói trên càng sớm càng tốt. 
Nguyên tắc là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lựợng cuộc sống. Trong các yếu tố cần điều chỉnh thì yếu tố di truyền và yếu tố lão hoá là những yếu tố mà chúng ta không thể điều chỉnh được. 
Ngược lại, các yếu tố còn lại (yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống...) chúng ta có thể điều chỉnh được bằng các biện pháp sau:
Tránh cho khớp bị quá tải: tư thế làm việc hợp lý, không nên làm việc ở một tư thế kéo dài mà nên thay đổi tư thế thường xuyên, nên kết hợp những khoảng nghỉ ngắn 5-10 phút trong khi làm việc; giữ cân nặng ở mức hợp lý, giảm cân nếu béo phì; Tập thể dục thường xuyên và vừa sức như bơi lội, đạp xe đạp, đi bộ khoảng 30 -60 phút/ngày, tập dưỡng sinh, tập các động tác tập tăng cường sức mạnh của các cơ quanh khớp, làm giảm lực tác động trên bề mặt sụn.
Phát hiện và điều trị kịp thời các chấn thương do thể thao, do nghề nghiệp, sau đó là sử dụng các biện pháp lý liệu pháp, phục hồi chức năng để khớp trở về trạng thái sinh lý bình thường, tránh diễn biến xấu dẫn đến thoái hoá khớp. Với những người làm nghề có nguy cơ thoái hoá khớp cao thì tìm kiếm các biện pháp thích nghi với điều kiện làm việc, với nguyên tắc là tránh cho khớp ít bị quá tải nhất có thể.
Dinh dưỡng hợp lý: ăn uống đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhất là các chất khoáng, các vitamin như rau quả tươi, giàu các chất chống ôxy hoá.
Phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp như chỉnh lại trục khớp, gọt giũa xương chày trong lệch trục khớp gối, sửa chữa lại các thiểu sản khớp háng bẩm sinh.


Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Lao xương có thể sẽ bị liệt tứ chi

Lao xương khớp là thể lao ít gặp hơn lao phổi. Lao xương khớp là tình trạng viêm các khớp, xương do lao trong đó viêm đốt sống - đĩa đệm do lao hay gặp nhất... 

Lao xương khớp khá nguy hiểm vì một số biến chứng có thể gặp như: Biến chứng chèn ép thần kinh xung quanh do xẹp đốt sống, thoát vị đĩa đệm, do áp xe lạnh, do viêm màng nhện tủy. 

Nếu chèn ép thần kinh ở vùng cột sống thắt lưng gây yếu liệt hai chân, rối loạn cảm giác vùng hậu môn sinh dục, đại tiểu tiện không tự chủ. Nếu chèn ép ở cột sống cổ có thể gây liệt tứ chi. Chèn ép vùng ngực gây đau thần kinh liên sườn, rối loạn cảm giác, yếu liệt hai chân...

Lao xương khớp thường tiến triển âm ỉ, chậm chạp, phát hiện muộn nên tỷ lệ biến chứng cao. Nhìn chung, khi phát hiện bệnh lao xương khớp, đầu tiên bệnh nhân phải được điều trị tại các cơ sở chuyên khoa lao với các thuốc điều trị lao thiết yếu. 

Việc dùng thuốc cụ thể như thế nào sẽ tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, thể bệnh. Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần được sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa.



Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Sự thật về công dụng của collagen với bệnh khớp

Nghiên cứu mới nhất của InterHealth (Mỹ) cho thấy chỉ có UC-II mới đem lại lợi ích thiết yếu cho khớp nhờ điều hòa hệ miễn dịch, tạo thuận lợi cho sự tái tạo sụn khớp.

Gối là khớp dễ bị thoái hóa nhất
Mối nguy tàn phế từ bệnh khớp

Số liệu từ Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu mới nhất cho thấy, các bệnh cơ xương khớp đang là mối nguy lớn với thoái hóa khớp háng và khớp gối xếp thứ 11, viêm khớp dạng thấp xếp thứ 42 trong nhóm gây tàn phế hàng đầu...

Riêng tại Việt Nam, một nghiên cứu mới đây ở TPHCM còn cho thấy có đến 30% người trên 40 tuổi bị thoái hóa khớp gối (khớp thường bị thoái hóa nhất). Điều đó lý giải vì sao giới chuyên môn và cả cộng đồng ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc điều trị căn bệnh mạn tính này.

Y học nhìn nhận thoái hóa khớp là quá trình hư hại sụn khớp, cụ thể là hư hại các sợi collagen và chất nền có trong sụn khớp. Chính vì vậy, rất nhiều người bệnh không ngừng tìm kiếm, bổ sung các sản phẩm chứa thành phần collagen với hi vọng giúp khớp của mình được chắc khỏe.

Tuy nhiên, TS.BS Tăng Hà Nam Anh (Trưởng khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình - BV Nguyễn Tri Phương) cho biết: "Có đến 29 loại collagen trong cơ thể người, loại có mặt tại sụn khớp nhiều nhất là collagen type 2, nên nếu sử dụng các loại collagen khác thì không hề có tác động gì đến sụn".

Cũng theo TS Nam Anh, ngay cả khi sử dụng collagen type 2 thông thường (loại dễ bị biến tính khi tinh chiết hoặc dễ dàng bị biến đổi cấu trúc và đặc tính sinh học khi hấp thụ vào cơ thể người) theo đường uống thì cũng không có tác dụng với sụn khớp, vì sau khi vào trong cơ thể, loại collagen này sẽ bị cắt nhỏ và chỉ có vai trò như các acid amin thông thường, phân bố khắp cơ thể mà không tập hợp được để trở thành nguyên liệu tập trung nuôi dưỡng khớp.
Trong khi đó, sụn khớp nhận dinh dưỡng qua dịch khớp chứ không được nuôi bởi máu nên hệ miễn dịch không nhận biết được sụn khớp chính là một thành phần của cơ thể.

Khi sụn khớp hư tổn, quá trình viêm diễn ra, một phần các mảnh sụn và sợi collagen đứt gãy thâm nhập vào trong mạch máu, lúc này hệ miễn dịch được kích hoạt để tiến hành dọn dẹp những sợi collagen đứt, vỡ dưới sự chỉ huy của tế bào T-Killer (tế bào dọn dẹp những thành phần bị hư hỏng trong cơ thể).

Đồng thời, hệ miễn dịch sẽ vô tình tấn công tất cả các collagen tương tự - bao gồm cả các collagen còn lành lặn tại sụn khớp. Chính việc "tự hủy hoại" này đã đẩy quá trình thoái hóa sụn khớp diễn ra ngày càng nhanh hơn - TS Nam Anh cho biết thêm.

Phát hiện mới về hoạt chất sinh học UC-II
Dưỡng chất sinh học UC-II giúp cơ thể làm chậm quá trình thoái hóa khớp, đồng thời cung cấp nguyên liệu tái tạo sụn khớp
Những nghiên cứu miễn dịch học phân tử của InterHealth (Mỹ) đã khẳng định việc sử dụng hoạt chất sinh học UC-II, được tinh chiết bằng công nghệ cao nhằm giữ nguyên cấu trúc phân tử và đặc tính sinh học, sẽ giúp chủ động sửa chữa, tái tạo các tổn hại của sụn khớp và hạn chế tối đa quá trình tự hủy hoại của sụn khớp.

UC-II khi được uống vào cơ thể, 53% sẽ được hấp thu vào máu, trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho quá trình tái tạo, nuôi dưỡng sụn khớp. 
Phần còn lại (47%) không bị phân hủy mà đi đến ruột non để tương tác với cơ quan kiểm dịch của cơ thể là mảng Peyer, giúp cơ thể nhận diện collagen như một "người quen", giảm hoạt tính của tế bào T-Killer để không phá hủy các collagen được hấp thụ, đồng thời ngăn chặn quá trình phá huỷ tự nhiên sụn khớp đang diễn ra, từ đó hỗ trợ làm chậm quá trình thoái hóa khớp.

"Việc cung cấp UC-II cho cơ thể sẽ có tác dụng như "1 mũi tên trúng 2 đích", vừa giúp cơ thể bảo vệ, tái tạo sụn khớp từ nguyên liệu mới là UC-II vừa có tác dụng điều hòa miễn dịch, làm chậm quá trình viêm sụn và ngăn chặn sụn khớp hư hại lan rộng", TS Nam Anh khẳng định.

Các nhà khoa học từ Đại học Havard cũng đã tiến hành nghiên cứu về tác dụng của UC-II bằng phương pháp mù đôi, ngẫu nhiên cho dùng UC-II và đối chứng. Kết quả cho thấy nhóm dùng UC-II có nhiều cải thiện đáng kể như ít đau khớp, khớp trơn tru, vận động dễ dàng hơn, tăng gấp đôi sự dẻo dai của khớp...

Tuy nhiên, nếu chỉ với UC-II thì vẫn chưa đủ để cải thiện triệu chứng thoái hóa khớp vì quá trình thoái hóa bao gồm hiện tượng hủy sụn khớp, viêm... 
Việc phối hợp nhiều hoạt chất tự nhiên như vỏ cây liễu (White Willow Bark) có tính chất kháng viêm tự nhiên giúp giảm cơn đau do viêm, bột nghệ (Curcumin) giúp giảm tình trạng viêm dạ dày kích ứng do uống thuốc... 
Tuy nhiên sự kết hợp các hoạt chất sinh học thiên nhiên này cần được thực hiện với công nghệ hiện đại đáp ứng các tiêu chuẩn đặc biệt khi phối hợp các hoạt chất nhằm làm tăng tác dụng hỗ trợ nhưng không gây tác dụng phụ cho người sử dụng. 
Điều này thường chỉ được đáp ứng với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ các nước có nền dược phẩm cao như Mỹ, Pháp, Canada...

Chính vì vậy, việc phân biệt rõ vai trò, chức năng và đặc tính để lựa chọn đúng loại collagen chuyên biệt dành cho khớp như UC-II là một điều hết sức thiết yếu giúp người tiêu dung tránh khỏi việc tiền mất mà tật vẫn mang.


Đau nhức xương khớp

Thời tiết chuyển mùa, đặc biệt khí hậu lạnh là điều kiện thuận lợi cho các bệnh xương khớp xuất hiện ở người cao tuổi (NCT) làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống sinh hoạt và sức khỏe của họ.
Viêm khớp là hiện tượng đau nhức khủng khiếp ở các khớp, sưng nề, bầm, đi lại, cử động khó khăn hoặc mỗi khi đụng vào rất đau. Các triệu chứng này thường xuất hiện ngày càng tăng thêm và có thể đưa đến thoái hóa khớp, do đó, mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là mưa, lạnh thì NCT có cảm giác khó chịu ở các khớp xương nhiều hơn.
Nguyên nhân gây đau nhức khớp mùa lạnh
Nguyên nhân đau nhức khớp vào mùa lạnh là do không khí lạnh thâm nhập vào cơ thể qua đường da bởi các lỗ chân lông, làm cho mạch máu tại các vùng da đó co lại, máu đến các khớp xương bị hạn chế hoặc rất ít gây nên thiếu máu nuôi dưỡng khớp, nuôi dưỡng các màng hoạt dịch và sụn khớp, chúng bị kích thích gây nên đau nhức khớp. 
Hơn nữa, một số NCT thường ngày đã bị các bệnh về khớp mãn tính (thoái hóa cột sống, thoái hóa sụn khớp, thoát vị đĩa đệm, viêm dây chằng, lao cột sống) hoặc đã, đang bị viêm khớp gây đau nhức, nay gặp thời tiết lạnh càng đau nhiều hơn.
Ngoài ra, ở những NCT bị bệnh gút mãn tính, loãng xương cũng gây đau nhức xương khớp, nếu bị lạnh bệnh lại càng gia tăng. Đau nhức xương khớp mùa lạnh có thể gặp ở NCT béo phì, thừa cân do các khớp phải chịu trọng lực của cơ thể đè lên các xương khớp, thêm vào đó còn có trọng lực của áo quần mùa đông vừa nặng vừa gây khó khăn trong vận động càng làm cho xương khớp bị đau nhức.
Với NCT khi vào mùa lạnh, bị đau nhức xương khớp gây cho họ cảm giác khó chịu, đau nhức, tê buốt ở các khớp xương khớp, dai dẳng ám ảnh, "hành hạ" nhất là về đêm. 
Đặc biệt, ở những NCT có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thiếu quần áo ấm, thiếu chăn, nhà ở không kín gió thì bệnh đau nhức xương khớp càng hành hạ nhiều hơn, khổ cực hơn. Do cảm giác chân, tay tê buốt, đau nhức lưng, đầu gối, bàn tay, ngón tay, khiến cho NCT gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống và luôn cảm thấy buồn phiền.
Một số trường hợp đau dây thần kinh liên sườn do thoái hóa cột sống lưng làm cho người bệnh nhầm tưởng là mắc bệnh về tim mạch hoặc bệnh phổi nên càng hoang mang lo lắng. 
Điều đáng nói là càng bị đau, nhức xương, khớp thì người bệnh càng sợ cử động dẫn đến các khớp trở nên tê cứng, khó cử động và càng ngày bệnh càng nặng thêm gây cứng khớp. Thêm vào đó nếu không phát hiện sớm để điều trị và dự phòng thì hậu quả khó lường trước.
Nguyên tắc phòng và chữa trị
Khi bị đau nhức khớp, nhất là vào mùa lạnh, người cao tuổi (NCT) nên đi khám bệnh, tốt nhất là khám chuyên khoa khớp để xác định nguyên nhân (tổn thương thực thể, thoái hóa khớp hay chỉ là do viêm khớp phản ứng). 
Trên cơ sở đó bác sĩ sẽ có hướng điều trị tốt hơn. Người bệnh hoặc người nhà không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình và không tự mua thuốc để điều trị, đặc biệt là thuốc loại corticoid (prednisonlon…) hoặc không steroid (voltagen...). 
Bởi vì, chúng có nhiều tác dụng phụ rất nguy hiểm nếu chưa có ý kiến của bác sĩ khám bệnh chỉ định, đặc biệt là những NCT có thêm các bệnh về hô hấp (hen suyễn), bệnh về tiêu hóa (viêm loét dạ dày - tá tràng…).
Đau nhức ở vị trí nào thì hãy làm nóng vùng xung quanh vị trí đóĐau nhức ở vị trí nào thì hãy làm nóng vùng xung quanh vị trí đó
Người bệnh có thể tự làm là, mỗi khi có dấu hiệu đau, nhức khớp, tê, mỏi xảy ra, nhất là khi ngủ dậy ở vị trí nào thì hãy làm nóng vùng xung quanh vị trí đó bằng cách cạo gió, thoa bóp dầu (dầu gió, dầu cao sao vàng…). 
Mục đích của việc tự làm này là làm nóng vùng xunh quanh đó để cho các mạch máu giãn ra, vận chuyển máu được dễ dàng đến nuôi các khớp, do đó sẽ giảm đau.
Những trường hợp đã bị viêm khớp, thoái hóa khớp mãn tính cần có các loại thuốc giảm đau dự phòng để mỗi khi gió lạnh, đông về đau nhức khớp có thể dùng tạm khi chưa đến phòng khám ngay được. Cần lưu ý là các loại thuốc giảm đau nhức khớp phải được bác sĩ chỉ định.
Về phòng bệnh, dù có bệnh lý khớp từ trước hay không, trong mùa lạnh, NCT cũng cần giữ ấm cơ thể mình, trong đó đặc biệt lưu ý các khớp. Để làm tốt điều đó cần mặc đủ ấm, cổ quàng khăn ấm, tay đi găng, chân đi tất. Khi ra khỏi nhà cần mặc ấm hơn để không cảm lạnh. 
Về chế độ dinh dưỡng, lý tưởng nhất là có chế độ hợp lý để duy trì cân nặng ở mức độ vừa phải, tránh béo phì, thừa cân và đầy đủ các vi chất cần thiết, cần tăng cường các loại thực phẩm giàu canxi. Hàng ngày nên vận động nhẹ nhàng các khớp gối, cổ chân, bàn tay, ngón tay, nhất là lúc sáng sớm vừa ngủ dậy, theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa khớp.


5 triệu chứng đau xương khớp

Triệu chứng đau mỏi xương khớp cũng khá phổ biến và là một trong những lý do chính khiến những phụ nữ này đến gặp bác sĩ khám bệnh.

Hơn thế nữa, tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh là lứa tuổi mà một số bệnh xương khớp bắt đầu xuất hiện như:
1. Triệu chứng đau xương khớp thông thường
Ởgiai đoạn tiền mãn kinh là những triệu chứng đau xương khớp diên ra mơ hồ, thường là đau ít, lan tỏa toàn thân, đau cả xương và khớp không xác định rõ vị trí cụ thể, các khớp đau không có biểu hiện của viêm (không sưng nóng đỏ). 
Đây là những biểu hiện lành tính, thường kết hợp với các triệu chứng khác của biểu hiện tiền mãm kinh. Triệu chứng sẽ giảm và hết khi qua giai đoạn này.
2. Đau khớp do thoái hóa khớp
Ở tuổi tiền mãn kinh cũng là lứa tuổi mà bắt đầu có biểu hiện triệu chứng thoái hóa khớp. Bệnh nhân thường đau khớp khi cử động, giảm khi nghỉ ngơi. 
Khớp thường bị là khớp gối, cột sống, khớp đốt ngón tay, ngón chân. Đau khớp trong bệnh lý thoái hóa thường không sưng nóng đỏ. Đôi khi chỉ sưng khớp gối khi có tràn dịch khớp.
3. Đau cột sống do loãng xương, lún xẹp đốt sống
Mật độ xương đỉnh của con người cao nhất ở lứa tuổi 20-35 tuổi, sau 40 tuổi mật độ xương đỉnh bắt đầu giảm, đặc biệt giảm nhanh ở giai đoạn đầu của mãn kinh với tốc độ đạt đỉnh là 1,8-2,5% giảm mật độ xương hàng năm. 
Do đó, phụ nữ ở tuổi mãn kinh có nguy cơ loãng xương rất cao và nguy cơ gẫy xương, lún xẹp đốt sống cũng tăng lên.
4. Đau khớp do viêm khớp
Viêm khớp do thấp ở nhóm tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh ít gặp hơn. Nhóm bệnh lý này (viêm khớp dạng thấp) thường khởi phát ở tuổi trẻ hơn 30 tuổi đến trước 50 tuổi, đôi khi cũng gặp khởi phát bệnh ở tuổi mãn kinh với những triệu chứng khớp đau kèm theo sưng nóng, cứng khớp buổi sáng kéo dài, khớp viêm đối xứng hai bên, vị trí thường gặp là các khớp cổ tay, bàn ngón tay, ngón gần, bàn ngón chân. Nếu không chẩn đoán và điều trị đúng sẽ dẫn đến dính và biến dạng khớp.
5. Đau khớp trong ung thư
Tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh cũng là lứa tuổi có tỉ lệ mắc ung thư cao nhất. Với phụ nữ nhóm tuổi này; ung thư vú, ung thư cổ tử cung, buồng trúng, ung thư phổi, đường tiêu hóa là những ung thư hay gặp với tần suất mắc cao.
Khi bệnh nhân bị ung thư ở một cơ quan nào đó, ngoài triệu chứng toàn thân suy sụp như gầy sút cân, mệt mỏi thì những biểu hiện xương khớp cũng thường gặp như: sưng đau một vài khớp (khớp gối, cổ chân, khớp vai), đau dọc các xương dài, phì đại các đầu ngón tay (ngón tay hình dùi trống).
Khi ung thư đó có biểu hiện di căn xương thì bệnh nhân thường rất đau, toàn thân suy sụp nhiều vì di căn xương là giai đoạn muộn của bệnh. Khi đó, chụp xạ hình xương toàn thân sẽ phát hiện được di căn xương hay không. Vị trí di căn thường là khung chậu và cột sống.
Lưu ý để điều trị đau xương khớp
Những biểu hiện đau xương khớp ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh có thể chỉ là những triệu chứng cơ năng, lành tính, thoáng qua cùng với nhiều triệu chứng khác của hội chứng tiền mãn kinh. Cũng có thể là những triệu chứng của bệnh lý thực nhe trên đã nêu.
Có hai thái cực cần tránh: Một là lo lắng quá, những phụ nữ có những biểu hiện của tiền mãn kinh đôi khi hay có trạng thái lo lắng quá mức. Hai là chủ quan quá mức không đi khám bệnh kịp thời để bệnh diễn biến nặng rất khó điều trị và chi phí sẽ tốn kém.
Do dó, những phụ nữ ở lứa tuổi này cần đến khám bác sĩ định kỳ như các bác sĩ sản phụ khoa, bác sĩ cơ xương khớp, bác sĩ tim mạch và bác sĩ tâm lý để được phát hiện bệnh kịp thời, tư vấn bệnh tật và hướng dẫn dùng thuốc, đặc biệt khi có những biểu hiện bất thường trong tuổi mãn kinh.
Ngoài chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng, thể dục hợp lý ở lứa tuổi tiền mãn kinh đôi khi cần phải dùng một số thuốc như: liệu pháp hormone thay thế, estrogen, các thuốc bình thần để điều trị triệu chứng tiền mãn kinh, hay là các thuốc điều trị thoái hóa khớp, loãng xương hoặc thuốc điều trị đặc hiệu khác khi bác sĩ chuyên khoa thấy cần thiết phải dùng.