Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyên nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyên nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Làm gì để phòng thoái hóa khớp?

Thoái hóa khớp là chứng bệnh thường gặp nhất trong các bệnh lý của khớp.

Bệnh tiến triển thầm lặng, không có biểu hiện gì cho đến một mức độ tổn thương nhất định của sụn khớp mới gây nên các triệu chứng trên lâm sàng như đau khớp, cứng khớp, dính khớp, teo cơ quanh khớp,... gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí là tàn tật. 
Mặc dù các yếu tố di truyền và lão hóa không thể điều chỉnh được nhưng chúng ta vẫn có thể giảm nguy cơ thoái hóa khớp nếu có tác động tích cực vào các yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống...
Làm gì để phòng thoái hóa khớp?Quá trình thoái hóa khớp.
Truy tìm nguyên nhân
Nguyên nhân thực sự của bệnh thoái hóa khớp vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Các hiểu biết hiện tại cho rằng sụn khớp phải chịu lực quá tải (yếu tố cơ học tấn công trực tiếp lên bề mặt sụn) đồng thời gây nên sự hoạt hoá và sự giải phóng các chất trung gian hoá học (cytokine các enzyme) gây thoái giáng chất cơ bản (yếu tố gây viêm), sau đó gây phá hủy sụn khớp. Tuy nguyên nhân của bệnh chưa biết rõ nhưng người ta đã biết được một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh thoái hóa khớp, đó là:
Yếu tố di truyền: Thoái hoá khớp cũng như nhiều bệnh khác chịu chi phối rất lớn của di truyền, có những chủng tộc người có tỷ lệ thoái hoá khớp cao hơn các chủng tộc khác.
Lão hóa: Các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ giảm khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi colagen và chất cơ bản của sụn làm cho chất lượng của sụn, tính đàn hồi, tính chịu lực bị giảm sút. Nói cách khác, thoái là hậu quả của quá trình lão hoá của sụn khớp, do đó tần số mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Với tuổi thọ trung bình ngày càng cao đồng nghĩa với số bệnh nhân bị bệnh thoái khớp ngày càng nhiều.
Yếu tố cơ học: Các vi chấn thương tích tụ lại nhiều lần (hiện tượng quá tải) là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hoá tăng nhanh. 
Hiện tượng quá tải hay gặp trong trường hợp như tư thế làm việc không hợp lý; tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp đặc biệt là các chấn thương thể thao như khớp bàn tay, khớp khuỷu tay của công nhân vận hành búa máy, khoan cắt bê tông; khớp cổ chân của diễn viên balê; đĩa đệm cột sống của vận động viên cử tạ...
Yếu tố dinh dưỡng: Thừa cân, béo phì gây quá tải nên sụn khớp, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, thiếu chất khoáng (mangan, zinc), một số vitamin làm ảnh hưởng đến chất lượng của sụn khớp.
Ngoài ra, các dị dạng bẩm sinh và rối loạn phát triển như loạn sản sụn; trật khớp háng bẩm sinh, biến dạng kiểu chân chữ X, chữ O; gù vẹo cột sống gây ra do những rối loạn làm thay đổi đặc tính của sụn và làm hư hại bề mặt khớp.
Cần làm gì để trì hoãn quá trình thoái hóa khớp?
Vì chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh và bệnh diễn tiến âm thầm không triệu chứng một thời gian dài trước khi bộc lộ đầy đủ trên lâm sàng nên mục đích của phòng bệnh là tác động vào các yếu tố nguy cơ như đã nói trên càng sớm càng tốt. 
Nguyên tắc là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lựợng cuộc sống. Trong các yếu tố cần điều chỉnh thì yếu tố di truyền và yếu tố lão hoá là những yếu tố mà chúng ta không thể điều chỉnh được. 
Ngược lại, các yếu tố còn lại (yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống...) chúng ta có thể điều chỉnh được bằng các biện pháp sau:
Tránh cho khớp bị quá tải: tư thế làm việc hợp lý, không nên làm việc ở một tư thế kéo dài mà nên thay đổi tư thế thường xuyên, nên kết hợp những khoảng nghỉ ngắn 5-10 phút trong khi làm việc; giữ cân nặng ở mức hợp lý, giảm cân nếu béo phì; Tập thể dục thường xuyên và vừa sức như bơi lội, đạp xe đạp, đi bộ khoảng 30 -60 phút/ngày, tập dưỡng sinh, tập các động tác tập tăng cường sức mạnh của các cơ quanh khớp, làm giảm lực tác động trên bề mặt sụn.
Phát hiện và điều trị kịp thời các chấn thương do thể thao, do nghề nghiệp, sau đó là sử dụng các biện pháp lý liệu pháp, phục hồi chức năng để khớp trở về trạng thái sinh lý bình thường, tránh diễn biến xấu dẫn đến thoái hoá khớp. Với những người làm nghề có nguy cơ thoái hoá khớp cao thì tìm kiếm các biện pháp thích nghi với điều kiện làm việc, với nguyên tắc là tránh cho khớp ít bị quá tải nhất có thể.
Dinh dưỡng hợp lý: ăn uống đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhất là các chất khoáng, các vitamin như rau quả tươi, giàu các chất chống ôxy hoá.
Phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp như chỉnh lại trục khớp, gọt giũa xương chày trong lệch trục khớp gối, sửa chữa lại các thiểu sản khớp háng bẩm sinh.


Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Vitamin E có thể gây ung thư tuyến tiền liệt, loãng xương?

Vitamin E là chất chống ôxy hóa, có thể bảo vệ cơ thể khỏi phản ứng có hại của các gốc tự do. Do vậy, vitamin E được cho rằng có tác dụng chống lão hóa và cải thiện sức khỏe. 
Vitamin E cũng góp phần điều trị và dự phòng một số bệnh lý tim mạch, làm đẹp cho da và tóc,... Vitamin E cũng đã chứng tỏ có tác dụng trong điều trị chứng bốc hỏa, khô âm đạo ở phụ nữ mãn kinh.
Tuy nhiên, vitamin E cũng không phải là vô hại. Đã có cảnh báo về tác dụng có hại của vitamin E có thể tăng nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Một nghiên cứu đánh giá nếu đàn ông dùng hàng ngày 400 IU vitamin E liên tục trong thời gian dài thì có nguy cơ tăng ung thư tiền liệt tuyến lên 17%. 
Hiện tại đã có đánh giá đúng hơn về mối liên hệ giữa vitamin E và ung thư tuyến tiền liệt. Đây là lý do để các bác sĩ cẩn trọng hơn trong việc kê đơn các loại thuốc thay thế. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh tuyến tiền liệt do sử dụng vitamin E.
Vitamin E có thể gây ung thư tuyến tiền liệt, loãng xương?​Lạm dụng vitamin E gia tăng nguy cơ loãng xương
Vitamin E trước đây từng được coi là một giải pháp có ích trong điều trị và dự phòng loãng xương ở phụ nữ, nhất là phụ nữ mãn kinh vì giá rẻ và ít có tác dụng phụ, có thể dùng khi bệnh nhân không có điều kiện sử dụng các thuốc chống loãng xương như biphosphonat. 
Thế nhưng ngày càng có những luận cứ hồ nghi về công dụng này của vitamin E. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa việc sử dụng vitamin E và loãng xương. Họ đã tiến hành đánh giá hiệu quả của alpha-tocopherol, là một dạng phổ biến nhất của vitamin E trong các loại thuốc bổ đang được hàng triệu người sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi cho chuột ăn một liều vitamin E tương tự như trong thuốc bổ thì xương chuột trở nên mỏng đi. 
Chuột bị loãng xương sau 8 tuần dùng chế độ ăn có bổ sung vitamin E so với chuột ăn theo chế độ ăn bình thường hàng ngày. Nhiều động vật khác giảm khoảng 20% mật độ xương sau khi dùng bổ sung vitamin E. 
Cơ sở để giải thích điều này là, vitamin E kích thích quá mức quá trình hủy xương của các tế bào hủy cốt bào. Hủy cốt bào bình thường hoạt động nhịp nhàng với các tế bào tạo xương để duy trì sức mạnh của xương. Tuy nhiên, nếu hủy cốt bào hoạt động quá mức thì sẽ gây ra loãng xương.
Mặc dù chưa được nghiên cứu trên người, nhưng các nhà khoa học cũng khuyến cáo, không có gì phải bận tâm khi bạn tiếp nhận được nhiều vitamin E từ thức ăn hàng ngày, nhưng nếu dùng liều cao vitamin E qua viên bổ sung hàng ngày thì đó là điều đáng lo ngại. 
Do vậy cần những nghiên cứu lớn hơn để xác định các mức độ bổ sung vitamin E ở liều lượng nào có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Dù sao các nghiên cứu trên cũng là lời cảnh tỉnh cho những ai thường sử dụng vitamin bừa bãi mà chẳng cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc.


Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương

Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã xếp loãng xương vào nhóm 10 căn bệnh phổ biến nhất trong thế kỷ 21.Theo thống kê, mỗi phút đều có vài người ở lục địa nào đó bị gãy xương, cho dù chấn thương không đến độ nghiêm trọng, mà vì xương quá loãng.
Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương.
Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương.
Tỷ lệ mắc bệnh loãng xương ngày càng tăng, đặc biệt là ở phụ nữ tuổi trung niên khi bước qua tuổi 70. Vấn đề lại không hề dừng lại ở chỗ đau nhức hay gãy xương.Loãng xương làm giảm chất lượng của cuộc sống. Đây cũng là căn bệnh mất nhiều chi phí khi điều trị.
Chính vì thế mà nhiều người có lý khi lo sợ xương bị loãng. Đó cũng là lý do nhiều người cố gắng bổ sung chất vôi vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Tuy nhiên, bổ sung vôi qua chế độ ăn uống vẫn chưa đủ.
Bằng chứng là không thiếu người ăn uống đầy đủ chất vôi nhưng xương vẫn loãng. Lý do là vì xương có thể loãng dễ dàng, còn gọi là bệnh loãng xương thứ phát, do hậu quả của nhiều bệnh chứng trước đó không được điều trị đến nơi đến chốn. Thí dụ:
Viêm ruột mãn tính
Thấp khớp
Tiểu đường nhóm II
Hội chứng mãn kinh
Bệnh cường tuyến giáp
Viêm thận mãn
Cũng như do tác dụng phụ của một số thuốc như thuốc chống động kinh, thuốc trị ung thư vú…
Trong những trường hợp vừa kể, dù cho người bệnh có uống sữa đầy đủ, bổ sung thêm thuốc có chứa canxi cũng chẳng ích gì nếu không chữa dứt căn bệnh dẫn đến loãng xương.
Nhớ uống sữa là điều tất nhiên nên làm nhưng quan trọng hơn nữa là đừng quên vai trò không thể thay thế của thầy thuốc.




Các thuốc phòng và trị gút

Gút là bệnh rối loạn chuyển hoá, biểu hiện bằng các đợt viêm khớp cấp tính và lắng đọng natri urat trong các tổ chức do tăng acid uric máu. Các nguyên nhân làm tăng acid uric máu gồm: ăn nhiều thịt (đạm), thoái giáng acid nhân tế bào, tăng tổng hợp purin nội sinh và giảm đào thải acid uric ở thận.
Acid uric máu tăng cao làm các dịch trong cơ thể bão hoà natri urat, gây ra hiện tượng kết tinh urat tạo thành tinh thể trong một số tổ chức, đặc biệt là dịch khớp, sụn, xương, gân, tổ chức dưới da, nhu mô thận, đài bể thận. 
Sự kết tinh thành các tinh thể natri urat khi đạt đến một lượng nhất định sẽ gây ra viêm khớp (viêm khớp vi tinh thể) và gây ra cơn gút cấp tính. Biểu hiện khớp sưng to, nóng, đỏ, phù nề, căng bóng, đau dữ dội, va chạm nhẹ cũng gây đau tăng. 
Sự lắng đọng urat ở đài bể thận sẽ gây ra sỏi thận (gặp 10 - 20% số bệnh nhân), sỏi thường nhỏ và không cản quang. Lắng đọng urat trong nhu mô thận gây ra viêm thận kẽ, về sau tiến triển đến suy thận và là nguyên nhân tử vong của bệnh nhân gút.
Hình ảnh tổn thương khớp do gút.Hình ảnh tổn thương khớp do gút
Dùng thuốc nào?
Điều trị bao gồm điều trị cơn gút cấp và điều trị hội chứng tăng acid uric máu.
Khi có cơn gút cấp, cần phải điều trị bằng thuốc và thuốc chống viêm giảm đau tốt nhất được lựa chọn trong điều trị cơn gút cấp là colchicin. Thuốc được uống sau bữa ăn, liều lượng và số lần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. 
Cần lưu ý, thuốc có thể gây tiêu chảy, đau dạ dày, nôn mửa. Ngoài colchicin, có thể dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nhóm không steroid (indomethacin, diclofenac, ibuprofen) nhưng tác dụng kém hơn. Corticoid làm giảm viêm nhanh nhưng ngừng thuốc lại đau trở lại, hơn nữa, corticoid làm tăng acid uric máu nên không dùng.
Điều trị hội chứng tăng acid uric máu, sử dụng thuốc làm giảm acid uric máu gồm nhóm thuốc làm giảm tổng hợp acid uric như allopurinol, thiopurinol, thuốc ức chế men xanthin oxydase làm giảm tạo thành acid uric. 
Thuốc ít tác dụng phụ nhưng có thể gặp phản ứng dị ứng, nổi mẩn da, rối loạn tiêu hóa. Nhóm thuốc làm tăng phân huỷ acid uric là uricozym, đây là một men urat oxydase được chiết xuất từ nấm aspegilus flavus có tác dụng làm thoái giáng acid uric thành allantoin. Allantoin có độ hòa tan gấp 10 lần so với uric và dễ dàng được thận đào thải. 
Uricozym làm giảm acid uric máu rất mạnh. Nhóm thuốc làm tăng đào thải acid uric qua nước tiểu như probenecid, sulfinpyrazon (anturan). Thuốc có thể gây phản ứng dị ứng, rối loạn tiêu hoá, chán ăn, buồn nôn, đau dạ dày, đi tiêu lỏng. 
Hai thuốc trên không được dùng đồng thời với aspirin liều nhỏ hoặc thiazid vì làm mất tác dụng đào thải acid uric. Vì thuốc làm tăng đào thải acid uric qua thận nên có thể làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận. Ngoài ra, cần phải kiềm hoá máu để làm tăng độ hoà tan của acid uric bằng uống các nước có kiềm (soda), thuốc viên nabica.
Phòng ngừa ra sao?
Điều quan trọng hơn là phải dự phòng cơn gút cấp tái phát bằng chế độ ăn và điều trị hội chứng tăng acid uric máu để luôn duy trì nồng độ acid uric máu trong giới hạn bình thường. Người ta thấy cơn gút cấp thường xảy ra sau bữa ăn nhiều thịt, rượu, chấn thương, kể cả đi giày chật. 
Vì vậy, người bị gút không nên ăn quá 0,8g đạm động vật/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Ví dụ, người 50kg không nên ăn quá 40g đạm động vật/ngày. Một lạng thịt lợn nạc, thịt bò, cá có 20g đạm, vậy không ăn quá 2 lạng thịt động vật/ngày. 
Không uống rượu, bia, cần uống nhiều nước (>2lít/ngày), nên uống các loại nước có bicacbonat. Định kỳ kiểm tra acid uric máu, dùng thuốc làm giảm acid uric máu như allopurinol, uricozym để duy trì nồng độ acid uric máu trong giới hạn bình thường. Không nên sử dụng các thuốc gây tăng acid uric máu như thiazid, ethambuton, pyrazynamid, aspirin liều nhỏ.



Loạn sản phẩm điều trị xương khớp

Bà Phạm Thị Thanh 61 tuổi, từ Phú Yên vào Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TPHCM điều trị khớp. Bà ngồi xe lăn, gương mặt mệt mỏi chờ đến lượt khám.

Mỗi tháng bà tốn khoảng một triệu đồng cho thuốc men.
Bà Thanh mắc bệnh khớp đã 10 năm nay. Uống quá nhiều loại thuốc nên hiện mặt mũi chân tay bà Thanh sưng phù lên, rất khó chịu. Mấy hôm nay, thời tiết chuyển biến bất thường, bà không đi lại được, cứ đứng dậy là đầu gối như có dao đâm. 
"Đau nhức lắm, tôi đi chụp phim, bác sĩ bảo khớp đã bị hư rồi, mọc rất nhiều gai. Tôi phải vào Sài Gòn để khám lại cho chắc ăn, mong là chữa được bệnh", bà Thanh nói.
Bà Thanh chỉ là một trong nhiều người bệnh khác có mặt tại BV Chấn thương chỉnh hình TPHCM lúc 6h30 sáng ngày 14/1. Ngồi gần bà Thanh có anh Đỗ Thanh Giang, 42 tuổi, nhà ở quận 5 TPHCM. Anh Giang bị viêm khớp dạng thấp khá nặng, chân tay thường xuyên đau nhức, sưng đỏ. Anh Giang tranh thủ đi tái khám sớm để về còn đi làm.
"Ban đầu tôi chủ quan, ngại đi khám, cứ nghe ai giới thiệu sản phẩm thuốc gia truyền nào hay thì mua về dùng. Uống vào thấy hết đau, hết sưng nhanh là mừng lắm, tưởng vậy là bệnh đã khỏi chứ đâu có ngờ ngày càng nặng thêm", anh tâm sự.
H1-Option-2-1-1467-1421666536.jpg
Bệnh nhân xương khớp tăng phần lớn do không chữa trị từ sớm hoặc tự ý điều trị.
Tại tiệm thuốc trên đường Lê Quang Định, quận Bình Thạnh, TPHCM, một người đàn ông tuổi trung niên tên Nguyễn Thanh Bình cầm trên tay một số sản phẩm dành cho xương khớp, gương mặt lộ rõ sự hoang mang. 
Ông Bình năm nay 54 tuổi, là khách ruột của tiệm thuốc này. Khớp gối của ông thường xuyên đau nhức, tê cứng khoảng 3-4 năm nay và tình trạng ngày càng tệ thêm. 
"Nghĩ do mình đi lại nhiều nên đầu gối nhức mỏi, tôi dùng vài loại sản phẩm dành cho xương khớp. Có loại uống vào bớt nhưng cứ ngưng thì cơn đau liền tái phát, nhiều loại làm đau bao tử", ông Bình nói.
Theo PGS.TS.BS Lê Anh Thư, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thấp khớp học Việt Nam, thông tin từ Hiệp hội Thấp khớp Mỹ cho thấy, 52% người Mỹ bị đau nhức xương khớp tự ý mua dùng các sản phẩm giảm đau. Việc tự chữa bệnh xương khớp luôn tiềm ẩn nhiều hiểm họa, đặc biệt là tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, cao huyết áp, phù người, viêm loét dạ dày… 
Tại Việt Nam tình trạng người dân tự ý dùng các sản phẩm chữa bệnh khớp hiện rất đáng lo ngại. Bởi trên thị trường các sản phẩm chữa xương khớp nhiều vô kể, không ít loại được quảng cáo đủ thứ công dụng mà không có chứng cứ khoa học hay nghiên cứu lâm sàng. 
"Việc bào chế, sản xuất có thể cũng không đảm bảo về mặt công nghệ, tiêu chuẩn, chất lượng… Dùng bừa bãi, thường xuyên các sản phẩm kém chất lượng vừa gây tốn kém tiền bạc, vừa khiến bệnh tình trở nên nghiêm trọng hơn", PGS Anh Thư nhấn mạnh.
BS.CK2 Nguyễn Thái Thành, Trưởng khoa Khớp - BV Chấn thương Chỉnh hình TPHCM, cũng khuyến cáo hiện nay trên thị trường có không ít sản phẩm được giới thiệu là Đông y, nguồn gốc thiên nhiên nhưng thành phần có trộn tân dược giúp giảm đau, kháng viêm như corticoids, morphin, dexamethasone… để đánh lừa người bệnh. 
Những sản phẩm này có thể giúp bệnh nhân hết đau, hết viêm rất nhanh nhưng có thể để lại hậu quả nghiêm trọng. 
Chẳng hạn, các sản phẩm giảm đau nhanh chứa corticoids có thể khiến bệnh nhân dễ nhiễm lao, mắc bệnh tiểu đường, loãng xương, đục tinh thể mắt, béo phì; các sản phẩm giảm đau morphine dùng lâu sẽ gây tình trạng nghiện thuốc, suy hệ hô hấp... Đây là những sản phẩm có hại nhiều hơn có lợi.
Anh Hồng Văn Công, chủ một tiệm thuốc Tây tại quận 12, TPHCM, cũng thừa nhận các dược sĩ bán ở nhà thuốc cũng thấy loạn với sản phẩm xương khớp hiện có. Lâu lâu đi chợ sỉ, anh được giới thiệu thêm sản phẩm mới với nhiều công dụng khác nhau, nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn, chiết khấu đến 30-40%. 
Tuy nhiên, nhiều chủ tiệm thuốc như anh Công không dám nhập hàng lung tung vì không biết tác dụng, hiệu quả của chúng thực sự thế nào để tư vấn cho khách hàng. Ông chủ tiệm thuốc này cho biết, nhiều sản phẩm nhanh chóng bị chết yểu vì không mang lại hiệu quả rõ ràng mà còn gây những tác dụng phụ cho người dùng.
Một nhân viên kinh doanh của đơn vị chuyên cung cấp sản phẩm hỗ trợ xương khớp cũng cho biết, hiện nay có quá nhiều sản phẩm dành cho bệnh xương khớp nên để chen chân được vào nhà thuốc, các hãng phải chiết khấu cao, khuyến mãi hấp dẫn. 
"Có nhà thuốc vì lợi nhuận đã dành những chính sách ưu đãi cho nhân viên tư vấn khách hàng đổi toa từ sản phẩm tốt sang sản phẩm kém uy tín (thường giá rẻ hơn) để có lợi nhuận cao", anh này tiết lộ.
Thị trường Việt Nam hiện có trên 50 sản phẩm về bệnh xương khớp khác nhau, chưa kể các sản phẩm thuộc dạng xách tay hoặc gia truyền không nhãn mác, xuất xứ khác. Hình thức cũng đa dạng như viên nang, cao đơn hoàn tán hoặc thuốc lỏng… 
Thành phần thuốc được công bố từ nhiều nguyên liệu động thực vật khác nhau như đỗ trọng, đương quy, kim tiền thảo, xuyên khung, khương hoạt, thục địa, tam thất, cao rắn hổ mang, cao xương cá xấu, cao xương dê, cao rắn biển, cao ngựa trắng... Giá được rao bán từ vài chục đến vài trăm nghìn mỗi hộp. 
Tuy nhiên, nguồn gốc, xuất xứ, nguyên liệu, công nghệ sản xuất cũng như các thành phần có trong chúng liệu có đảm bảo hay không thì… ít ai biết được. Thực tế, chỉ có rất ít sản phẩm công bố kết quả nghiên cứu lâm sàng rõ ràng hoặc có những chứng cứ khoa học về tác dụng một cách rõ rệt.
H2-Phau-thuat-2-1962-1421666536.jpg
Sử dụng các sản phẩm xương khớp thiếu khoa học có thể khiến sụn khớp hư tổn, bệnh càng nặng hơn và có thể phải phẫu thuật thay khớp.
PGS Lê Anh Thư cho rằng, với các bệnh lý về xương khớp, việc điều trị bao gồm điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc. 
Không dùng thuốc bao gồm tuân thủ chế độ dinh dưỡng, vận động, tập luyện, nghỉ ngơi… phù hợp với thể trạng, tuổi tác, tình trạng bệnh của từng người. Điều trị dùng thuốc phải kiên trì theo chỉ định của bác sĩ, bao gồm điều trị tấn công, điều trị duy trì và điều trị củng cố. 
Trong đó, điều trị tấn công thường trong giai đoạn đầu nhằm "cắt" nhanh các triệu chứng như đau, viêm, sưng; điều trị duy trì nhằm ổn định bệnh, giúp bệnh thuyên giảm hoặc không tiến triển; điều trị củng cố nhằm duy trì, hồi phục chức năng của các cơ quan xương khớp bị tổn thương. 
Nếu điều trị tấn công nhắm vào giải quyết nhanh các triệu chứng thì điều trị duy trì và củng cố nhắm vào nguyên nhân gây bệnh, giúp chữa trị bệnh từ gốc.
TS.BS Tăng Hà Nam Anh (Trưởng khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình, BV Nguyễn Tri Phương) cũng khuyên, bên cạnh việc chủ động khám sớm và tuân thủ theo lộ trình điều trị của bác sĩ, bệnh nhân xương khớp có thể sử dụng một số sản phẩm hỗ trợ uy tín, được chứng minh, nghiên cứu lâm sàng rõ ràng và không gây tác dụng phụ.
"Với các bệnh lý xương khớp nhất là thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp, các bệnh gai đốt sống cổ, thoát vị đĩa đệm…, việc điều trị nên bắt đầu từ gốc là bảo vệ, bảo tồn và chăm sóc tối đa sụn khớp. Các thuốc giảm đau chỉ có tác dụng giảm triệu chứng, quan trọng nhất là làm sao giúp sụn khớp chậm bị hư hoại bởi sụn khớp hư hại là nguồn gốc của các cơn đau và cả nguy cơ tàn phế", TS Nam Anh nhấn mạnh.
Xu hướng điều trị các bệnh xương khớp hiện nay cần phải trúng đích phải đảm bảo an toàn, không gây tác dụng phụ, việc dùng các thuốc chống viêm giảm đau chỉ khi cần thiết. Đối với các bệnh xương khớp phổ biến ở người trung niên và cao tuổi, có xu hướng trẻ hóa như thoái hóa khớp cần phải điều trị đúng vào yếu tố gốc là sụn khớp. 
Bên cạnh việc chữa trị phải đặc biệt lưu ý đến các giải pháp làm chậm sự thoái hóa của sụn khớp, phục hồi các hư tổn tại mô sụn như dưỡng chất sinh học UC-II. 
Theo TS Nam Anh, loại dưỡng chất sinh học này đã được các nhà khoa học từ Viện InterHealth (Mỹ) nghiên cứu về công dụng, tính năng và tính an toàn khi sử dụng. 
Trải qua nhiều nghiên cứu lâm sàng tại Mỹ và Canada, UC-II được chứng minh có khả năng giúp cơ thể bảo vệ, tái tạo và nuôi dưỡng sụn khớp hiệu quả, người bệnh có thể dùng trong thời gian dài mà không gây tác dụng phụ.
Theo TS Nam Anh, người bệnh cần tỉnh táo khi chọn lựa sản phẩm chăm sóc xương khớp. Các tiêu chí cơ bản được khuyến cáo khi sử dụng là có xuất xứ rõ ràng, đơn vị phân phối uy tín, được chứng minh công dụng qua các nghiên cứu lâm sàng và đặc biệt là có sự tư vấn của các bác sĩ chuyên ngành. 
Ngoài ra, người sử dụng cũng chú ý lắng nghe cơ thể của chính mình để có biện pháp bảo vệ khung xương, chăm sóc sụn khớp từ sớm và điều trị ngay khi ở giai đoạn đầu của bệnh lý.



Rước họa vì tự “nạp” thuốc giảm đau khớp

Để "chữa cháy", nhiều bệnh nhân mắc bệnh xương khớp đã tự ý dùng thuốc chống viêm, giảm đau tức thì. Tuy nhiên, không ít người đã ôm hận vì tác dụng phụ nguy hại của các loại thuốc này.

Lợi bất cập hại
Sau khi bác sĩ chẩn đoán mắc bệnh thoái hóa khớp, ông Nguyễn Văn Hợp (ở Đống Đa, Hà Nội) được kê đơn thuốc về nhà uống. "Khi uống thuốc thấy bệnh có thuyên giảm, nhưng mấy tháng sau "trở trời" bệnh lại tái phát", ông kể. Ông Hợp mua hai loại thuốc giảm đau và chống viêm ở hiệu thuốc về uống. Ít lâu sau, khi bệnh khớp có giảm đi chút ít thì ông bị bệnh loét dạ dày. 
Tương tự, không chịu đựng cơn đau do bệnh thấp khớp hành hạ, anh Trịnh Sơn (46 tuổi, ở Từ Liêm, Hà Nội) mua thuốc giảm đau về uống. Một thời gian tự ý dùng thuốc, anh Sơn bị viêm dạ dày và men gan tăng cao bất thường.
PGS.TS.BS Lê Anh Thư - Phó chủ tịch Hội Thấp khớp học VN - cho biết: "Các thuốc chống viêm, giảm đau tức thì là một biện pháp điều trị quan trọng và hữu hiệu trong các bệnh lý cơ - xương - khớp. Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp lâu dài và gây nhiều biến chứng". Theo bác sĩ, nếu có chỉ định tiêm corticosteroid thì cũng cần có kỹ năng chứ không phải ai cũng tiêm được vì dễ xảy ra các biến chứng như canxi hóa bao khớp, nhiễm trùng, đứt gân, teo da, teo mỡ, thậm chí tử vong sau tiêm…
BS Anh Thư cho biết thêm, sau tuổi 40, nhóm bệnh viêm khớp tăng cao nhất trong các bệnh lý của con người, hơn cả tim mạch và ung thư. Đặc biệt, thoái hóa khớp chiếm đến 50% trong nhóm bệnh viêm khớp. 
Tại Việt Nam, tỉ lệ người thoái hóa khớp trên 35 tuổi là 30%, trên 65 tuổi là 60% và trên 80 tuổi lên đến 85%. "Thực trạng đáng lo ngại là những người có vấn đề về cơ, xương hay khớp ở Việt Nam thường không chủ động đến gặp bác sĩ chuyên khoa mà tự ý điều trị, sử dụng tùy tiện thuốc chống viêm, giảm đau thông thường", bác sĩ Thư cho biết.
Điều trị "trúng đích" và an toàn
GS-TS-BS Trần Ngọc Ân - Chủ tịch Hội Thấp khớp học VN - nhận định, xu hướng điều trị bệnh khớp cần ngày càng phải trúng đích và an toàn, không thể sử dụng lâu dài các biện pháp điều trị toàn thân trong khi tình trạng viêm, đau chỉ khu trú ở một vài vị trí. Theo đó, thuốc sinh học và điều trị từ gốc được xem là bước tiến bộ quan trọng và là cuộc cách mạng trong phòng cũng như điều trị thoái hóa khớp, các loại viêm khớp.
Các thuốc sinh học có mặt tại VN trong thời gian gần đây đã mang đến những tiến bộ trong việc điều trị và hỗ trợ điều trị các bệnh khớp, điển hình là dưỡng chất sinh học UC-II (collagen tuýp 2 không biến tính), khi sử dụng bằng đường uống sẽ cung cấp axít amin collagen tuýp 2 trực tiếp cho sụn, điều chỉnh đáp ứng miễn dịch tại khớp thông qua hoạt động của các tế bào T giúp cơ thể nhận biết và bảo vệ mô sụn, đồng thời làm giảm đáng kể lượng các cytokine gây viêm nên có hiệu quả giảm sưng đau khớp.
"Các thuốc chống viêm, giảm đau tức thì là một biện pháp điều trị quan trọng và hữu hiệu trong các bệnh lý cơ - xương - khớp. Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp lâu dài và gây nhiều biến chứng", PGS.TS.BS Lê Anh Thư - Phó Chủ tịch Hội Thấp khớp học VN - nói.