Hiển thị các bài đăng có nhãn hệ xương khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hệ xương khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

5 triệu chứng đau xương khớp

Triệu chứng đau mỏi xương khớp cũng khá phổ biến và là một trong những lý do chính khiến những phụ nữ này đến gặp bác sĩ khám bệnh.

Hơn thế nữa, tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh là lứa tuổi mà một số bệnh xương khớp bắt đầu xuất hiện như:
1. Triệu chứng đau xương khớp thông thường
Ởgiai đoạn tiền mãn kinh là những triệu chứng đau xương khớp diên ra mơ hồ, thường là đau ít, lan tỏa toàn thân, đau cả xương và khớp không xác định rõ vị trí cụ thể, các khớp đau không có biểu hiện của viêm (không sưng nóng đỏ). 
Đây là những biểu hiện lành tính, thường kết hợp với các triệu chứng khác của biểu hiện tiền mãm kinh. Triệu chứng sẽ giảm và hết khi qua giai đoạn này.
2. Đau khớp do thoái hóa khớp
Ở tuổi tiền mãn kinh cũng là lứa tuổi mà bắt đầu có biểu hiện triệu chứng thoái hóa khớp. Bệnh nhân thường đau khớp khi cử động, giảm khi nghỉ ngơi. 
Khớp thường bị là khớp gối, cột sống, khớp đốt ngón tay, ngón chân. Đau khớp trong bệnh lý thoái hóa thường không sưng nóng đỏ. Đôi khi chỉ sưng khớp gối khi có tràn dịch khớp.
3. Đau cột sống do loãng xương, lún xẹp đốt sống
Mật độ xương đỉnh của con người cao nhất ở lứa tuổi 20-35 tuổi, sau 40 tuổi mật độ xương đỉnh bắt đầu giảm, đặc biệt giảm nhanh ở giai đoạn đầu của mãn kinh với tốc độ đạt đỉnh là 1,8-2,5% giảm mật độ xương hàng năm. 
Do đó, phụ nữ ở tuổi mãn kinh có nguy cơ loãng xương rất cao và nguy cơ gẫy xương, lún xẹp đốt sống cũng tăng lên.
4. Đau khớp do viêm khớp
Viêm khớp do thấp ở nhóm tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh ít gặp hơn. Nhóm bệnh lý này (viêm khớp dạng thấp) thường khởi phát ở tuổi trẻ hơn 30 tuổi đến trước 50 tuổi, đôi khi cũng gặp khởi phát bệnh ở tuổi mãn kinh với những triệu chứng khớp đau kèm theo sưng nóng, cứng khớp buổi sáng kéo dài, khớp viêm đối xứng hai bên, vị trí thường gặp là các khớp cổ tay, bàn ngón tay, ngón gần, bàn ngón chân. Nếu không chẩn đoán và điều trị đúng sẽ dẫn đến dính và biến dạng khớp.
5. Đau khớp trong ung thư
Tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh cũng là lứa tuổi có tỉ lệ mắc ung thư cao nhất. Với phụ nữ nhóm tuổi này; ung thư vú, ung thư cổ tử cung, buồng trúng, ung thư phổi, đường tiêu hóa là những ung thư hay gặp với tần suất mắc cao.
Khi bệnh nhân bị ung thư ở một cơ quan nào đó, ngoài triệu chứng toàn thân suy sụp như gầy sút cân, mệt mỏi thì những biểu hiện xương khớp cũng thường gặp như: sưng đau một vài khớp (khớp gối, cổ chân, khớp vai), đau dọc các xương dài, phì đại các đầu ngón tay (ngón tay hình dùi trống).
Khi ung thư đó có biểu hiện di căn xương thì bệnh nhân thường rất đau, toàn thân suy sụp nhiều vì di căn xương là giai đoạn muộn của bệnh. Khi đó, chụp xạ hình xương toàn thân sẽ phát hiện được di căn xương hay không. Vị trí di căn thường là khung chậu và cột sống.
Lưu ý để điều trị đau xương khớp
Những biểu hiện đau xương khớp ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh có thể chỉ là những triệu chứng cơ năng, lành tính, thoáng qua cùng với nhiều triệu chứng khác của hội chứng tiền mãn kinh. Cũng có thể là những triệu chứng của bệnh lý thực nhe trên đã nêu.
Có hai thái cực cần tránh: Một là lo lắng quá, những phụ nữ có những biểu hiện của tiền mãn kinh đôi khi hay có trạng thái lo lắng quá mức. Hai là chủ quan quá mức không đi khám bệnh kịp thời để bệnh diễn biến nặng rất khó điều trị và chi phí sẽ tốn kém.
Do dó, những phụ nữ ở lứa tuổi này cần đến khám bác sĩ định kỳ như các bác sĩ sản phụ khoa, bác sĩ cơ xương khớp, bác sĩ tim mạch và bác sĩ tâm lý để được phát hiện bệnh kịp thời, tư vấn bệnh tật và hướng dẫn dùng thuốc, đặc biệt khi có những biểu hiện bất thường trong tuổi mãn kinh.
Ngoài chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng, thể dục hợp lý ở lứa tuổi tiền mãn kinh đôi khi cần phải dùng một số thuốc như: liệu pháp hormone thay thế, estrogen, các thuốc bình thần để điều trị triệu chứng tiền mãn kinh, hay là các thuốc điều trị thoái hóa khớp, loãng xương hoặc thuốc điều trị đặc hiệu khác khi bác sĩ chuyên khoa thấy cần thiết phải dùng.


Viêm khớp và trời lạnh

Tập thể dục nhẹ nhàng để vận động các khớp đau khi trời lạnh là lời khuyên của bác sĩ - Ảnh: Thanh Tùng
Các bác sĩ chuyên khoa cũng đồng ý một số bệnh nhân mắc bệnh khớp thường than phiền là các triệu chứng đau và cứng khớp sẽ xấu hơn với những thay đổi thời tiết.
Tuy nhiên, không phải ai cũng thế. Chúng ta biết rằng sử dụng túi nhiệt hoặc buồng tắm vòi nước nóng có thể thư giãn những cơ bắp xung quanh các khớp, làm giảm độ cứng và đau cho một số khớp. Ngược lại, chườm nước đá có thể giảm bớt tình trạng viêm ở các khớp bị sưng đau.
Vậy thời tiết có ảnh hưởng đến viêm khớp?
Cho đến bây giờ chưa có nhiều nghiên cứu khoa học thật sự giải quyết câu hỏi này. Năm 1961, chuyên gia viêm khớp nổi tiếng J. Hollander đã tiến hành một nghiên cứu, trong đó ông xây dựng một buồng khí hậu và chứng minh rằng độ ẩm cao kết hợp với áp suất không khí thấp có liên quan với sự tăng đau và sưng khớp.
Cả yếu tố thời tiết, bởi chính nó dường như ảnh hưởng đến các triệu chứng chung của khớp. Nghiên cứu này đã bị chỉ trích vì số lượng hạn chế của các bệnh nhân được đánh giá (12 bệnh nhân).
Giả thuyết của nghiên cứu này là các khớp bị viêm sưng lên khi khí áp suất giảm xuống. Sự viêm sưng khớp đã kích thích các dây thần kinh xung quanh khớp xương có thể cảm nhận sự đau đớn và gây ra độ cứng khớp. Các mô xung quanh các khớp giống như một quả bóng, áp suất khí quyển cao tác động từ bên ngoài sẽ giữ cho các mô không nở rộng.
Khi áp suất khí quyển xuống thấp thì các mô sẽ nở ra. Áp suất khí quyển thường giảm xuống trước khi thời tiết xấu xuất hiện. Áp suất không khí thấp cho phép mô nở ra và có thể gây áp lực lên khớp.
Theo Jamison (Ðại học Y khoa Harvard, Mỹ), các thay đổi vi thể này chúng ta khó có thể nhận thấy, chỉ những người bị đau khớp mãn tính, khi dây thần kinh trở nên nhạy cảm hơn do chấn thương, viêm, sẹo hoặc dính mới có những cảm giác về điều đó.
Có nên chuyển đến vùng khí hậu ấm áp để sinh sống?
Nếu các giả thuyết trên được chứng minh là đúng (hiện vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi) thì người bị viêm khớp có nên di chuyển đến vùng có khí hậu ấm áp hơn để sinh sống? Ðây là một câu hỏi mà các bác sĩ thường xuyên nghe từ những bệnh nhân viêm khớp.
Họ thường đổ lỗi cho thời tiết lạnh, mưa, bão gây ra cơn đau và thường hỏi ý kiến bác sĩ về việc có nên di chuyển đến vùng có khí hậu ấm áp, khô ráo hay không? Câu trả lời là không. Chuyển nhà sang một môi trường khí hậu khác nhau dường như không tạo sự khác biệt trong thời gian dài.
Nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng không có chuyện cơ thể người bị bệnh khớp sẽ thiết lập một trạng thái cân bằng mới với khí hậu địa phương. Kết quả là những thay đổi về thời tiết ảnh hưởng đến các triệu chứng viêm khớp trong cùng một cách thức, không phụ thuộc vào thời tiết trung bình tổng thể thực tế.
Ðổi nơi sinh sống là không có khả năng mang lại lợi ích lâu dài vì các bác sĩ ở xứ nóng cũng rất bận rộn với bệnh nhân bị bệnh khớp như các đồng nghiệp ở xứ lạnh!
Nên có thái độ thế nào về viêm khớp và thời tiết?
Có một số bằng chứng cho thấy các triệu chứng của một số bệnh nhân viêm khớp bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về thời tiết. Ðiều này không đúng cho tất cả mọi người bị viêm khớp, và cũng không thể tiên đoán được kiểu thay đổi thời tiết nào sẽ tác động đến người bệnh.
Ví dụ, trong một khu điều trị, có thể có một bệnh nhân phàn nàn rằng tuần trước khi trời mưa, các khớp của bệnh nhân bắt đầu đau và bây giờ thời tiết ấm áp bệnh nhân ấy cảm thấy tốt hơn. Ðồng thời ở phòng bên cạnh, một bệnh nhân khác nói với bác sĩ rằng các khớp của mình thấy tồi tệ hơn sau khi trời mưa...
Người thầy thuốc phải làm gì với thông tin này? Mỗi bệnh nhân viêm khớp phải được đánh giá có hệ thống.
Ðiểm mấu chốt là trong khi nguyên nhân chính xác của việc kích hoạt các triệu chứng viêm khớp có thể chưa được hiểu một cách khoa học, thì mỗi bệnh nhân phải thực hiện lối sống và dùng thuốc điều chỉnh theo các điều kiện thời tiết cụ thể mà người bệnh thấy ảnh hưởng đến triệu chứng của họ.
Các biện pháp phòng ngừa
Vận động. Trước khi đi ra ngoài trong thời tiết lạnh, cố gắng tập vận động các khớp đau để làm giãn cơ quanh khớp, tăng tưới máu, giúp giảm đau và giảm cứng khớp.
Giữ ấm. Mặc quần áo ấm, mang vớ, giữ cho nhà cửa ấm áp có thể giúp giảm đau liên quan đến thời tiết lạnh.
Thuốc giảm đau. Khi thời tiết thay đổi, một số người bị viêm khớp sẽ cần phải tăng thuốc giảm đau.
Cải thiện tâm trạng. Những người đau mãn tính thường cảm thấy lo lắng, chán nản và cáu gắt. Vì thế người bệnh cần phải học cách làm thế nào để cải thiện tâm trạng là điều quan trọng.
Ðau liên quan đến thời tiết không phải là một sự thay đổi vĩnh viễn, đó chỉ là tạm thời. Cơ thể thích nghi với sự thay đổi và sẽ di chuyển dịch từ khớp vào hệ tuần hoàn nên bệnh nhân cảm thấy đỡ cứng khớp và đỡ đau hơn. Ðây là những thay đổi sinh lý xảy ra trong mối quan hệ với những thay đổi khí áp.


Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương

Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã xếp loãng xương vào nhóm 10 căn bệnh phổ biến nhất trong thế kỷ 21.Theo thống kê, mỗi phút đều có vài người ở lục địa nào đó bị gãy xương, cho dù chấn thương không đến độ nghiêm trọng, mà vì xương quá loãng.
Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương.
Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương.
Tỷ lệ mắc bệnh loãng xương ngày càng tăng, đặc biệt là ở phụ nữ tuổi trung niên khi bước qua tuổi 70. Vấn đề lại không hề dừng lại ở chỗ đau nhức hay gãy xương.Loãng xương làm giảm chất lượng của cuộc sống. Đây cũng là căn bệnh mất nhiều chi phí khi điều trị.
Chính vì thế mà nhiều người có lý khi lo sợ xương bị loãng. Đó cũng là lý do nhiều người cố gắng bổ sung chất vôi vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Tuy nhiên, bổ sung vôi qua chế độ ăn uống vẫn chưa đủ.
Bằng chứng là không thiếu người ăn uống đầy đủ chất vôi nhưng xương vẫn loãng. Lý do là vì xương có thể loãng dễ dàng, còn gọi là bệnh loãng xương thứ phát, do hậu quả của nhiều bệnh chứng trước đó không được điều trị đến nơi đến chốn. Thí dụ:
Viêm ruột mãn tính
Thấp khớp
Tiểu đường nhóm II
Hội chứng mãn kinh
Bệnh cường tuyến giáp
Viêm thận mãn
Cũng như do tác dụng phụ của một số thuốc như thuốc chống động kinh, thuốc trị ung thư vú…
Trong những trường hợp vừa kể, dù cho người bệnh có uống sữa đầy đủ, bổ sung thêm thuốc có chứa canxi cũng chẳng ích gì nếu không chữa dứt căn bệnh dẫn đến loãng xương.
Nhớ uống sữa là điều tất nhiên nên làm nhưng quan trọng hơn nữa là đừng quên vai trò không thể thay thế của thầy thuốc.




Viêm gân… dài hạn

Viêm gân mạn tính là bệnh dai dẳng, do quá trình lao động, hoạt động… gây nên. Đây là bệnh dễ nhầm lẫn với các bệnh khác như: thoái hóa cột sống cổ, đau khớp…

Càng lúc càng đau
Gân được cấu tạo bởi những sợi gân nhỏ và bọc bằng bao gân. Khi chơi thể thao quá sức, lao động quá mức… những sợi gân bên trong bị tổn thương nhưng bên ngoài bao gân vẫn bình thường. 
Lúc này, "đương sự" sẽ cảm thấy đau, nhưng nghỉ ngơi một thời gian thì hết. Riêng trường hợp viêm gân mạn tính (VGMT) thì khác, cơn đau ập đến mỗi giờ, mỗi ngày… 
Viêm gân là tình trạng bao gân bị viêm dày lên, cấu trúc các sợi trong gân bị những chấn thương nhỏ (vi chấn thương) do vận động quá tải.
Tình trạng viêm này là cơ chế tự hồi phục của cơ thể. Các sợi gân bị tổn thương sẽ xuất huyết, các tế bào bạch cầu tìm đến "ăn" và tiêu hủy các mô chất và tạo mô mới. Quá trình này viêm nhưng không có vi trùng và cũng là cách mà cơ thể tự điều trị. 
Thông thường, quá trình "dọn dẹp" của bạch cầu và "tự trị bệnh" kéo dài trong một-hai tuần là kết thúc. Người bệnh không còn đau nhức nữa, nhưng nếu vết thương chưa lành mà lại bị chấn thương tiếp, giống như nhà dột vừa sửa chưa xong đã gặp mưa và dột thêm chỗ mới, nhiều lần như vậy, dẫn đến VGMT khó phục hồi. Chấn thương trên nền gân bị tổn thương có thể khiến người bệnh…sụm luôn!
Dễ lầm với bệnh khác
Trong thực tế, VGMT dễ bị nhầm với các bệnh khác. Trường hợp VGMT chóp xoay vai, bệnh nhân sẽ thấy đau khi trời lạnh, lúc gần sáng. Không điều trị thì sẽ thấy các triệu chứng gây khó khăn trong sinh hoạt thường ngày như: không cài được dây lưng của áo ngực, khó cột tóc… 
Do đa phần người bị VGMT từ tuổi trung niên trở lên nên cũng hay "đổ tội" cho bệnh thoái hóa cột sống cổ, chỉ đến khi chụp phim mới biết do VGMT. BS Phan Vương Huy Đổng - Hội Y học thể thao TP.HCM lưu ý các đặc điểm nhận dạng phân biệt VGMT với đau do thoái hóa đốt sống cổ như sau:
Biểu hiện của VGMT:
- Đau có tính chất kéo dài, lặp đi, lặp lại…
- Đau liên tục và đau ngay điểm ấn.
- Đau khi kéo căng, khi chịu lực nặng.
- Đau khi bị đối lực (tay nâng lên, hoặc tay người khác đè xuống).
- Đau tại chỗ khi viêm.
Đau do thoái hóa đốt sống cổ:
- Đau theo đường dây thần kinh, tê từ cổ xuống cánh tay, cẳng tay, và ngón tay… tùy vào dây thần kinh bị chèn ép mà số ngón tay bị tê khác nhau.
- Khi thực hiện những biện pháp cúi gập, xoay cơ quá mức, đau do dây thần kinh chèn ép.
- Đặc biệt đau nhiều khi nằm gối cao hay gắng sức.
Ngoài ra, VGMT còn xuất hiện tại các vị trí khác như:
- Viêm khuỷu tay người chơi tennis. Thực tế cho thấy, các cô nội trợ có thâm niên cũng bị giống hệt. Nếu đàn ông đau không thể giơ ly để "dzô dzô" thì phụ nữ cũng khó mà cầm chảo khi làm bếp.
- Đôi chân bỗng đau khi bước từ giường xuống sàn. Có nhiều nguyên nhân gây đau, trong đó có VGMT gân gót (đau vùng sau gót), viêm cân gan chân (đau vùng gan chân)...
Tóm lại, việc điều trị VGMT đòi hỏi phải được định bệnh đúng, dùng thuốc, tập vật lý trị liệu giúp căng dãn gân, cân, xoa bóp và đeo dụng cụ (nếu bệnh nặng)… Bệnh không gây tử vong, nhưng có khả năng "khóa" các hoạt động khiến người bệnh chẳng khác gì tàn phế. Vì vậy, bệnh cần điều trị càng sớm càng tốt.





Những thực phẩm người bệnh gout tuyệt đối không ăn

Những thực phẩm người bệnh gout tuyệt đối không ăn
Bệnh gout là một trong những dạng viêm khớp gây đau đớn nhất. Bệnh gout xảy ra khi có quá nhiều axit uric tích tụ trong cơ thể. Khi bị bệnh gout, người bệnh cần phải thực hiện chế độ ăn uống nghiêm ngặt.
Những thực phẩm người bệnh gout tuyệt đối không ăn vì sẽ khiến tình trạng bệnh thêm trầm trọng và gây ra những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh.
Những thực phẩm người bệnh gout tuyệt đối không ăn

Người bệnh gout tuyệt đối không ăn cá trích
Bệnh nhân gout tuyệt đối không nên thêm cá trích, cá ngừ, cá cơm vào thực đơn bữa ăn hàng ngày. Cá trích chứa nhiều chất đạm, chất mỡ không tốt cho bệnh nhân bị bệnh gout.
Người bệnh gout tuyệt đối không ăn gà tây và thịt ngỗng
Thịt gà tây và thịt ngỗng là những thực phẩm có hàm lượng purine cao, do đó bệnh nhân gout nên tránh ăn các loại thịt này.
Người bệnh gout tuyệt đối không ăn gan
Những bệnh nhân gout nên ghi nhớ điều này: Các món ăn nội tạng như gan, thận, lá lách là những món ăn nên "từ chối" hoàn toàn.
Người bệnh gout tuyệt đối không ăn trứng vịt lộn
Ăn nhiều trứng vịt lộn hàng ngày dễ tạo protein xấu cho người bệnh gout.
Người bệnh gout tuyệt đối không ăn cà chua
Trong cà chua có một lượng nhỏ purin nên những người bị thống bệnh gout cần thận trọng, cần được thầy thuốc chuyên khoa tư vấn khi muốn sử dụng.
Người bệnh gout tuyệt đối không ăn cua, ghẹ
Ăn nhiều cua ghẹ, lượng axit uric trong máu tăng cao và lắng đọng các thể purin ở khớp sẽ khiến những người bị bệnh gout, viêm khớp sẽ càng đau đớn và gây bệnh nặng hơn.
Ngoài các thực phẩm trên, người bệnh gout cần tuyệt đối tránh uống rượu, bia, đồ uống có gas, có cồn. Sử dụng những đồ uống này này khiến họ phải chịu sự đau đớn của những cơn gout cấp, nguy hiểm hơn là có thể dẫn tới các biến chứng như: sỏi thận, suy thận, bệnh tim mạch...




Các thuốc phòng và trị gút

Gút là bệnh rối loạn chuyển hoá, biểu hiện bằng các đợt viêm khớp cấp tính và lắng đọng natri urat trong các tổ chức do tăng acid uric máu. Các nguyên nhân làm tăng acid uric máu gồm: ăn nhiều thịt (đạm), thoái giáng acid nhân tế bào, tăng tổng hợp purin nội sinh và giảm đào thải acid uric ở thận.
Acid uric máu tăng cao làm các dịch trong cơ thể bão hoà natri urat, gây ra hiện tượng kết tinh urat tạo thành tinh thể trong một số tổ chức, đặc biệt là dịch khớp, sụn, xương, gân, tổ chức dưới da, nhu mô thận, đài bể thận. 
Sự kết tinh thành các tinh thể natri urat khi đạt đến một lượng nhất định sẽ gây ra viêm khớp (viêm khớp vi tinh thể) và gây ra cơn gút cấp tính. Biểu hiện khớp sưng to, nóng, đỏ, phù nề, căng bóng, đau dữ dội, va chạm nhẹ cũng gây đau tăng. 
Sự lắng đọng urat ở đài bể thận sẽ gây ra sỏi thận (gặp 10 - 20% số bệnh nhân), sỏi thường nhỏ và không cản quang. Lắng đọng urat trong nhu mô thận gây ra viêm thận kẽ, về sau tiến triển đến suy thận và là nguyên nhân tử vong của bệnh nhân gút.
Hình ảnh tổn thương khớp do gút.Hình ảnh tổn thương khớp do gút
Dùng thuốc nào?
Điều trị bao gồm điều trị cơn gút cấp và điều trị hội chứng tăng acid uric máu.
Khi có cơn gút cấp, cần phải điều trị bằng thuốc và thuốc chống viêm giảm đau tốt nhất được lựa chọn trong điều trị cơn gút cấp là colchicin. Thuốc được uống sau bữa ăn, liều lượng và số lần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. 
Cần lưu ý, thuốc có thể gây tiêu chảy, đau dạ dày, nôn mửa. Ngoài colchicin, có thể dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nhóm không steroid (indomethacin, diclofenac, ibuprofen) nhưng tác dụng kém hơn. Corticoid làm giảm viêm nhanh nhưng ngừng thuốc lại đau trở lại, hơn nữa, corticoid làm tăng acid uric máu nên không dùng.
Điều trị hội chứng tăng acid uric máu, sử dụng thuốc làm giảm acid uric máu gồm nhóm thuốc làm giảm tổng hợp acid uric như allopurinol, thiopurinol, thuốc ức chế men xanthin oxydase làm giảm tạo thành acid uric. 
Thuốc ít tác dụng phụ nhưng có thể gặp phản ứng dị ứng, nổi mẩn da, rối loạn tiêu hóa. Nhóm thuốc làm tăng phân huỷ acid uric là uricozym, đây là một men urat oxydase được chiết xuất từ nấm aspegilus flavus có tác dụng làm thoái giáng acid uric thành allantoin. Allantoin có độ hòa tan gấp 10 lần so với uric và dễ dàng được thận đào thải. 
Uricozym làm giảm acid uric máu rất mạnh. Nhóm thuốc làm tăng đào thải acid uric qua nước tiểu như probenecid, sulfinpyrazon (anturan). Thuốc có thể gây phản ứng dị ứng, rối loạn tiêu hoá, chán ăn, buồn nôn, đau dạ dày, đi tiêu lỏng. 
Hai thuốc trên không được dùng đồng thời với aspirin liều nhỏ hoặc thiazid vì làm mất tác dụng đào thải acid uric. Vì thuốc làm tăng đào thải acid uric qua thận nên có thể làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận. Ngoài ra, cần phải kiềm hoá máu để làm tăng độ hoà tan của acid uric bằng uống các nước có kiềm (soda), thuốc viên nabica.
Phòng ngừa ra sao?
Điều quan trọng hơn là phải dự phòng cơn gút cấp tái phát bằng chế độ ăn và điều trị hội chứng tăng acid uric máu để luôn duy trì nồng độ acid uric máu trong giới hạn bình thường. Người ta thấy cơn gút cấp thường xảy ra sau bữa ăn nhiều thịt, rượu, chấn thương, kể cả đi giày chật. 
Vì vậy, người bị gút không nên ăn quá 0,8g đạm động vật/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Ví dụ, người 50kg không nên ăn quá 40g đạm động vật/ngày. Một lạng thịt lợn nạc, thịt bò, cá có 20g đạm, vậy không ăn quá 2 lạng thịt động vật/ngày. 
Không uống rượu, bia, cần uống nhiều nước (>2lít/ngày), nên uống các loại nước có bicacbonat. Định kỳ kiểm tra acid uric máu, dùng thuốc làm giảm acid uric máu như allopurinol, uricozym để duy trì nồng độ acid uric máu trong giới hạn bình thường. Không nên sử dụng các thuốc gây tăng acid uric máu như thiazid, ethambuton, pyrazynamid, aspirin liều nhỏ.