Hiển thị các bài đăng có nhãn điều trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn điều trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương

Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã xếp loãng xương vào nhóm 10 căn bệnh phổ biến nhất trong thế kỷ 21.Theo thống kê, mỗi phút đều có vài người ở lục địa nào đó bị gãy xương, cho dù chấn thương không đến độ nghiêm trọng, mà vì xương quá loãng.
Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương.
Những nguyên nhân có thể khiến bạn bị loãng xương.
Tỷ lệ mắc bệnh loãng xương ngày càng tăng, đặc biệt là ở phụ nữ tuổi trung niên khi bước qua tuổi 70. Vấn đề lại không hề dừng lại ở chỗ đau nhức hay gãy xương.Loãng xương làm giảm chất lượng của cuộc sống. Đây cũng là căn bệnh mất nhiều chi phí khi điều trị.
Chính vì thế mà nhiều người có lý khi lo sợ xương bị loãng. Đó cũng là lý do nhiều người cố gắng bổ sung chất vôi vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Tuy nhiên, bổ sung vôi qua chế độ ăn uống vẫn chưa đủ.
Bằng chứng là không thiếu người ăn uống đầy đủ chất vôi nhưng xương vẫn loãng. Lý do là vì xương có thể loãng dễ dàng, còn gọi là bệnh loãng xương thứ phát, do hậu quả của nhiều bệnh chứng trước đó không được điều trị đến nơi đến chốn. Thí dụ:
Viêm ruột mãn tính
Thấp khớp
Tiểu đường nhóm II
Hội chứng mãn kinh
Bệnh cường tuyến giáp
Viêm thận mãn
Cũng như do tác dụng phụ của một số thuốc như thuốc chống động kinh, thuốc trị ung thư vú…
Trong những trường hợp vừa kể, dù cho người bệnh có uống sữa đầy đủ, bổ sung thêm thuốc có chứa canxi cũng chẳng ích gì nếu không chữa dứt căn bệnh dẫn đến loãng xương.
Nhớ uống sữa là điều tất nhiên nên làm nhưng quan trọng hơn nữa là đừng quên vai trò không thể thay thế của thầy thuốc.




Đau đầu gối khi leo cầu thang: dấu hiệu đầu tiên của bệnh viêm khớp

Một nghiên cứu được tiến hành trên gần 5.000 người đã xác định việc đau đầu gối khi leo cầu thang như là dấu hiệu đầu tiên của bệnh viêm khớp.

Theo Dailymail, phát hiện này rất quan trọng vì viêm xương khớp thường không bị phát hiện cho đến khi nó đã phát triển đến một giai đoạn quá muộn - khi mà các khớp gần như bị hư hỏng nặng và phẫu thuật lúc này là lựa chọn duy nhất.
Nếu có thể phát hiện sớm, thậm chí thay đổi đơn giản như việc giảm cân cũng có thể làm chậm sự tiến triển của căn bệnh này.
Các hình thức phổ biến nhất của bệnh viêm khớp, viêm xương khớp là do hao mòn sụn khiến khớp gặp khó khăn trong việc uốn, nâng, đi lại và quỳ, và đang ảnh hưởng đến hơn 8 triệu người Anh.
Vấn đề đầu gối đặc biệt phổ biến và còn có thể gây ra các vấn đề khác từ trầm cảm đến tăng cân hay rối loạn giấc ngủ.
Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu trên 4.673 đàn ông và phụ nữ trong một điều tra hàng năm về việc liệu đầu gối của họ đã bị tổn thương như thế nào trong các quá trình hoạt động khác nhau. Hầu hết những người tham gia được coi là có nguy cơ cao trong việc gặp các bệnh viêm xương khớp.
Các tình nguyện viên trả lời các câu hỏi mỗi năm trong vòng 7 năm, cho phép các tiến triển của bệnh được theo dõi một cách kĩ càng.
Kết quả cho thấy rằng, việc sử dụng cầu thang là hoạt động đầu tiên trong đó đầu gối bắt đầu bị tổn thương. Tiếp theo đó là đau khi đi bộ, sau đó là ngồi. Cuối cùng, thậm chí nằm trên giường không cung cấp cứu trợ từ đau đầu gối.
Trưởng nhóm nghiên cứu Philip Conaghan cho biết: "Nghiên cứu này là quan trọng để hiểu biết thêm các triệu chứng sớm của bệnh viêm xương khớp đầu gối. Biết được điều này sẽ giúp chúng ta can thiệp sớm hơn, có lẽ sẽ có những cách hiệu quả hơn trong điều trị tình trạng rất đau đớn này”.
Trong khi không có thuốc để tái tạo lại sụn bị mất, tập thể dục có thể giúp giữ bệnh ổn định hơn.
Giáo sư Conaghan khuyên, những người thấy đau đầu gối nên thử một số bài tập nhẹ nhàng. Điều này sẽ giúp họ giảm cân và tăng cường cơ bắp đùi mạnh mẽ - cả hai đều sẽ có lợi cho đầu gối. Nếu cơn đau không giảm sau một vài tuần hoặc nặng hơn, nên hỏi bác sĩ .
Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Arthritis Care & Research.




Phòng đau nhức cơ khớp khi mang thai

Trong thời kì mang thai và sinh nở, chị em thường gặp những rắc rối liên quan đến cơ xương khớp, nhẹ thì chuột rút, đau vùng thắt lưng, đau cổ tay, nặng hơn có thể bị cơn tétani.

Nguyên nhân do trong thời kì mang thai một lượng lớn canxi được lấy từ người mẹ sang thai để thai phát triển hệ thống xương ở thai nhi dẫn tới nồng độ canxi của máu mẹ giảm, đặc biệt ở người mẹ có chế độ ăn không đủ canxi theo nhu cầu, hay những người bị bệnh đường tiêu hóa mạn tính làm giảm hấp thu canxi. Nhiều trường hợp không được chẩn đoán và điều trị đúng đã ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của cả mẹ và con.
Phòng đau nhức cơ khớp khi mang thai
Khi mang thai chị em chú ý ăn nhiều thực phẩm giàu canxi như tôm, cua, cá, trứng, sữa và các sản phẩm từ sữa giúp thai nhi tạo xương tốt.
Đau vùng thắt lưng
Những biến đổi về tư thế liên quan đến quá trình mang thai là cột sống đoạn thắt lưng và đoạn cổ ưỡn ra trước, đoạn ngực và cùng cụt cong ra sau nhiều hơn so với trước khi mang thai, đây là nguyên nhân quan trọng gây đau lưng. 
Hơn nữa, khi mang thai, khối lượng cơ thể người mẹ tăng lên làm tăng áp lực cho xương khớp, đặc biệt cột sống. Như chúng ta đã biết, khi trọng lượng cơ thể tăng thêm 1kg, thì cột sống phải gánh nặng thêm 4kg. 
Mặt khác, dưới tác dụng của hormon khi mang thai, các khớp, dây chằng mềm và giãn ra nhất là vùng chậu hông, khớp mu, khớp cùng - chậu và cùng cụt làm cho khung chậu dễ thay đổi và tăng độ rộng giúp mang thai và cuộc đẻ được dễ dàng.
Biểu hiện: đau thắt lưng trong khi mang thai nhất là 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Đau thường khu trú ở vùng thắt lưng và khớp cùng chậu, ít hoặc không lan, tăng khi vận động và sờ nắn tại chỗ, giảm khi nghỉ ngơi. Sau khi sinh, nhất là sinh thai to, chuyển dạ kéo dài có thể gây đau nhiều vùng cùng chậu, không đi lại được. Nặng hơn nữa là viêm khớp cùng chậu nhiễm khuẩn.
Viêm bao gân
Với chi trên hay bị viêm mỏm châm quay, mỏm châm trụ, lồi cầu ngoài và trong cánh tay nên thai phụ thường thấy đau mỏi cổ tay, ngón tay. Với chi dưới là viêm mấu chuyển lớn và mấu chuyển nhỏ, gân Achille ở gót chân... Để phòng bệnh, cần tránh các động tác xoắn vặn quá mức cổ tay và ngón tay. 
Trường hợp đau nhiều có thể dùng thuốc giảm đau hoặc vật lý trị liệu (tia hồng ngoại), ngâm tay nước ấm hằng ngày… đem lại hiệu quả trong một số trường hợp. Nếu không đỡ phải đi khám bác sĩ chuyên khoa để có chỉ định điều trị cụ thể.
Cơn tétani do hạ canxi máu
Những người nghén nhiều như nôn nhiều làm mất nước, điện giải và tình trạng kiềm hóa kèm theo tình trạng lo lắng, tạo điều kiện cho cơn tétani xuất hiện (cơn tétani là một tình trạng kích thích quá mức của hệ thống thần kinh - cơ). 
Dấu hiệu báo trước hoặc đi kèm là hiện tượng dị cảm, nặng nề ở tay, chân, vùng quanh miệng. Tiếp theo là tình trạng co cơ đột ngột, nhất là ở bàn tay và ngón tay tạo nên hình ảnh như bàn tay người đỡ đẻ. 
Tình trạng co cơ có thể biểu hiện ở các vị trí khác như ở chân hay ở mặt. Một số trường hợp có kèm với co thắt cơ trơn gây nên tình trạng khó thở do co thắt khí quản hay đau bụng do co thắt cơ trơn ở ruột... Cũng có khi co cơ kéo dài từ vài phút đến vài giờ. 
Thai phụ có thể có tình trạng lo lắng, hoảng hốt, mạch nhanh... Xét nghiệm máu trong cơn sẽ thấy canxi máu giảm nhưng đôi khi có những trường hợp canxi máu không giảm. 
Dự phòng và điều trị bằng cách bổ sung canxi (1.000-1.500mg/ngày) và vitamin D ở dạng dược phẩm do bác sĩ kê đơn. Kết hợp bằng các thức ăn giàu canxi (cua, cá, thịt...), cần dành thời gian hoạt động ngoài trời (phơi nắng) mỗi ngày từ 15-30 phút để tăng tổng hợp vitamin D từ da.
Lời khuyên của thầy thuốc
Để giữ gìn sức khỏe tốt cho cả mẹ và thai, trong khi mang thai bà mẹ cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý. Cụ thể nên ăn thức ăn có nhiều vitamin C (rau có màu xanh đậm, quả chín màu vàng, đỏ…) các loại thực phẩm nhiều canxi, phospho (cá, cua, tôm, sữa…) để giúp cho sự tạo xương của thai nhi, thức ăn chứa nhiều sắt (thịt, trứng, các loại đậu đỗ…) để phòng thiếu máu thiếu sắt.




Sự liên quan giữa thời tiết và đau khớp

Bầu trời trong xanh, nhưng các khớp xương của bạn bắt đầu sưng đau. Có thể trời sắp có bão chăng? Liệu đau khớp có thể dự đoán những thay đổi của thời tiết không?

Theo TS Robert Newlin Jamison, giáo sư thuộc Khoa Tâm thần học và Gây mê tại Đại học Y khoa Harvard và là một nhà nghiên cứu về hiệu ứng thời tiết trên các bệnh nhân đau mạn tính, có nhiều người cho rằng cơn đau tăng lên là do thời tiết. Mỗi khi xương khớp bắt đầu đau ê ẩm thì họ nói rằng thời tiết sắp thay đổi.
TS Jamison, nhà tâm lý học tại Trung tâm Quản lý Đau thuộc BV Phụ khoa Brigham - Boston, trong một nghiên cứu trước đây công bố trong Tạp chí Đau, đã tìm thấy mối liên quan giữa thời tiết và đau mạn tính ở bốn thành phố: San Diego, Nashville, Boston và Worcester (một thành phố khác của Massachusetts với nhiệt độ lạnh hơn so với Boston). 
Theo ông, trong số tất cả những người được phỏng vấn, 2/3 cho biết họ chắc chắn rằng thời tiết có ảnh hưởng đến cơn đau của mình, hầu hết trong số họ nói rằng họ thực sự có thể cảm thấy những thay đổi trước khi có sự thay đổi thực sự của thời tiết. Có người còn nói họ cảm thấy đau tăng lên vào ngày trước khi có bão.
TS David Borenstein, một nhà thấp khớp học tại Trung tâm Y tế Đại học George Washington và là cựu chủ tịch của Đại học Thấp khớp Hoa Kỳ cho biết, cơn đau khớp xuất hiện ngay cả khi hạt mưa đầu tiên rơi xuống là một hiện tượng điển hình. Theo ông, những người phụ nữ cao tuổi hay những người bệnh viêm khớp có thể dự báo mưa tương đối chính xác.

Thời tiết có thể gây đau như thế nào?

Jamison cho biết hiện nay chưa có sự thống nhất giữa các nhà khoa học về mối liên quan giữa thời tiết và đau, một cơ chế cụ thể cũng chưa được phát triển đầy đủ, nhưng có những giả thuyết có vẻ hợp lý.
Một trong những giả thuyết được nhiều người quan tâm là sự thay đổi áp suất không khí. Mặc dù nhiều người nói cơn đau của họ nặng lên khi trời ẩm thấp, mưa dầm, nhưng nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguyên nhân không phải là do lạnh, gió, mưa, hay tuyết, mà theo Borenstein điều ảnh hưởng đến hầu hết mọi người là áp suất khí quyển.
Sự liên quan giữa thời tiết và đau khớp
Hãy tưởng tượng các mô xung quanh các khớp giống như một quả bóng, áp suất khí quyển cao tác động từ bên ngoài sẽ giữ cho các mô không nở rộng. Khi áp suất khí quyển thấp, chẳng hạn như khi đi máy bay, hay có nhà du hành bay vào vũ trụ, thì cơ thể chúng ta sẽ nở ra. 
Điều đó đã được chứng minh, mặc dù trong khoang máy bay đã được tạo áp suất, nhưng bàn chân của chúng ta thường to lên trong khi bay, điều mà đã không xảy ra khi chúng ta ngồi trên bàn làm việc cùng với khoảng thời gian tương tự ở dưới đất.
Áp suất khí quyển thường giảm xuống trước khi thời tiết xấu xuất hiện. Áp suất không khí thấp cho phép mô nở ra và có thể gây áp lực lên khớp. Theo Jamison, những thay đổi vi thể này chúng ta khó có thể nhận thấy, chỉ những người đau mạn tính, khi dây thần kinh trở nên nhạy cảm hơn do chấn thương, viêm, sẹo, hoặc dính mới có những cảm giác về điều đó.

Có nên di chuyển đến xứ nóng không?

Đó là một câu hỏi mà các bác sĩ thường xuyên nghe từ những bệnh nhân viêm khớp. Họ thường đổ lỗi cho thời tiết mưa, tuyết gây ra cơn đau, và thường hỏi ý kiến các bác sĩ về việc có nên di chuyển đến vùng có khí hậu ấm áp, khô ráo hay không. Jamison cho biết mặc dù ông không phản đối việc này, nhưng ông cũng không kỳ vọng vào điều đó.
Sự liên quan giữa thời tiết và đau khớp
Trong thực tế, theo nghiên cứu của Jamison, những người từ San Diego có độ nhạy cảm lớn nhất đối với thay đổi thời tiết – đây quả là một khám phá bất ngờ, bởi vì San Diego là vùng có khí hậu ấm nhất so với Nashville và hai thành phố của tiểu bang Massachusetts là Boston và Worcester. 
Những người San Diego trong nghiên cứu của ông cảm thấy đau ngay cả với những thay đổi nhỏ của thời tiết. Ở San Diego nhiệt độ không bao giờ quá lạnh hoặc quá nóng - nhưng chỉ một thay đổi nhỏ, người đau vẫn cho biết họ có thể phát hiện ra. 
Vì vậy, Jamison cho rằng việc di chuyển từ vùng này đến vùng kia để tránh đau chẳng có tác dụng, không có một khu vực nào có thể làm bạn bớt đau cả.
Borenstein cũng cho biết, khi những người có kỳ nghỉ tránh đau ở một nơi có khí hậu ấm áp, thì việc họ nghỉ ngơi trong khách sạn, ăn uống và thư giãn sau những ngày làm việc là nguyên nhân làm cho họ bớt đau chứ không phải do khí hậu ấm. 
Và sự giảm đau đó có thể là đánh lừa, bởi vì nếu họ thực sự di chuyển đến một nơi khí hậu ấm hơn và tiếp tục các hoạt động thường nhật thì cơn đau sẽ quay trở lại.

Các biện pháp phòng ngừa

Thuốc giảm đau. Khi thời tiết thay đổi, một số người bị viêm khớp sẽ cần phải tăng thuốc giảm đau.
Giữ ấm. Theo Viện Y tế quốc gia (Hoa Kỳ), mặc quần áo nhiều lớp, giữ cho nhà cửa ấm áp, và làm ấm xe hơi trước khi lên xe có thể giúp giảm đau liên quan đến thời tiết lạnh. 
Đồng thời cố gắng ngủ với chăn điện hoặc làm ấm quần áo bằng máy sấy trước khi mặc. Áp một miếng đệm nóng vào khớp đau, nhiệt làm cho cơ bắp thư giãn, vì vậy đó là một cách nhẹ nhàng giúp giảm đau.
Phòng ngừa sưng khớp. Hơi nóng giúp giảm đau khớp, nhưng không được để sưng khớp. Ví dụ, nếu thời tiết xấu viêm khớp nặng hơn ở bàn tay, thì hãy đeo găng tay Spandex vào ban đêm để cố gắng giữ dịch khớp.
Vận động. Trước khi bạn đi ra ngoài trong thời tiết lạnh, cố gắng tập vận động các khớp đau để giảm cứng khớp.
Cải thiện tâm trạng. Những người đau mạn tính thường cảm thấy lo lắng, chán nản và cáu kỉnh. Học cách làm thế nào để cải thiện tâm trạng của bạn là một điều quan trọng.
Nhớ rằng cơn đau là tạm thời. Đau liên quan đến thời tiết không phải là một sự thay đổi vĩnh viễn, đó chỉ là tạm thời. Trong thực tế, mọi người sẽ bắt đầu điều chỉnh những thay đổi khí áp. 
Cơ thể thích nghi với sự thay đổi và sẽ di chuyển dịch từ khớp vào vòng tuần hoàn, do đó bệnh nhân cảm thấy đỡ cứng và đỡ đau hơn. Đây là những thay đổi sinh lý xảy ra trong mối quan hệ với những thay đổi khí áp.
Những hiểu biết về những gì đang xảy ra có thể làm cho những người đau khớp yên tâm hơn bởi vì chúng ta thực sự không thể làm bất cứ điều gì với thời tiết. Hy vọng họ sẽ nhận ra rằng cơn đau sẽ biến mất.




Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Phụ nữ dễ mắc viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý viêm khớp có tính chất tự miễn, đặc trưng bởi tình trạng viêm mạn tính màng hoạt dịch ở nhiều khớp và các tổn thương ngoài khớp.

Khoảng 1/3 số bệnh nhân (BN) VKDT xuất hiện bệnh sau tuổi 60. Nữ thường mắc bệnh hơn so với nam giới.
Có thể gây tàn phế
Chị Võ Kim Thoa (50 tuổi, tỉnh Đồng Tháp) suốt ba tháng nay bị sốt, sưng hai chân, tay không thể nắm, không giơ lên được, đặc biệt là vào những buổi sáng. Sau khi đi khám nhiều nơi, tại phòng khám Dị ứng - miễn dịch (BV ĐH Y Dược TP.HCM), chị được chẩn đoán bị viêm đa khớp.
Theo BS Cao Thanh Ngọc (BV ĐH Y Dược TP.HCM), một số BN có rất nhiều khớp bị đau, sưng. Biểu hiện ở các khớp nhỏ (bàn tay, ngón tay, cổ tay) và chi dưới. Bệnh còn kèm theo sốt, cứng khớp, không nắm chặt được. Cơn cứng khớp có thể kéo dài từ 30 phút đến một giờ.
Nếu không được điều trị sớm và đầy đủ, bệnh có thể bị phá hủy, biến dạng khớp và tàn phế nặng nề. Tổn thương phá hủy khớp có thể xuất hiện rất sớm trong quá trình của bệnh. BS Ngọc cảnh báo: “Khoảng 30% BN có biểu hiện bào mòn xương tại thời điểm chẩn đoán và tỷ lệ này có thể tăng lên 60% trong vòng hai năm. 
Việc chẩn đoán VKDT chủ yếu dựa trên bệnh cảnh lâm sàng, với sự hỗ trợ của các xét nghiệm huyết thanh tìm các tự kháng thể như yếu tố dạng thấp. Điểm cốt yếu trong điều trị là phải sử dụng sớm các thuốc điều trị cơ bản đặc biệt là methotrexate, và liệu pháp mới nhất là điều trị sinh học".
Trên phạm vi toàn cầu, tỷ lệ lưu hành của bệnh ước tính vào khoảng 0,8% dân số người lớn. Tại Việt Nam, theo một nghiên cứu tại miền Bắc, tỷ lệ này vào khoảng 0,28% dân số. Nghiên cứu về tình hình bệnh tật tại Khoa Cơ xương khớp (BV Bạch Mai), bệnh VKDT chiếm tỷ lệ 21,94% trong số các bệnh lý cơ xương khớp, trong đó nữ chiếm 92,3%, đa số BN nữ trong độ tuổi 36-65 (72,6%).
Dấu hiệu chủ yếu của viêm khớp sớm trong VKDT là đau và sưng khớp. Khớp viêm có thể sưng, nóng, song thường ít tấy đỏ. Tình trạng viêm khớp được cho là đang hoạt động nếu đau khi sờ nắn hoặc khi vận động khớp thụ động. Sưng khớp có thể là sưng nề phần mềm quanh khớp hoặc sưng tại khớp.Sưng tại khớp thường kèm theo các dấu hiệu của tràn dịch khớp.
Di truyền chiếm 50%
Đau, sưng khớp có tính chất đối xứng, lan tỏa, ảnh hưởng tới các khớp nhỏ là những triệu chứng thường gặp nhất. Các triệu chứng này thường đi kèm với tình trạng cứng khớp buổi sáng, kéo dài thường trên một giờ và mệt mỏi toàn thân. Viêm khớp trong VKDT thường không gây sốt hoặc chỉ sốt nhẹ trong đợt tiến triển.
Nguyên nhân của VKDT vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Sự xuất hiện của bệnh được cho là do sự tương tác giữa các yếu tố di truyền, môi trường, hormone, miễn dịch và nhiễm trùng. Các yếu tố về kinh tế xã hội, tâm lý và lối sống (chẳng hạn vấn đề hút thuốc lá, uống cà phê, tiếp xúc silicon) có thể ảnh hưởng. Một số nghiên cứu cho thấy, bệnh có thể khởi phát sớm hơn ở những người hút thuốc lá.
BS Ngọc cho biết: “Yếu tố di truyền có thể chiếm tới 50% nguy cơ mắc bệnh VKDT. Các nghiên cứu về sinh đôi và gia đình cho thấy anh chị em của BN VKDT có nguy cơ bị VKDT tăng hai-bốn lần so với những người không có quan hệ huyết thống. Nhiều tác nhân nhiễm khuẩn cũng liên quan đến sự xuất hiện của bệnh VKDT, trong đó có các vi khuẩn mycoplasma, virus Epstein-Barr, Rubella...”.
BN cần tuân thủ tái khám định kỳ và dùng thuốc đều đặn, thường xuyên. Trong chế độ ăn uống, sinh hoạt, BN nên tăng cường các axít amin thiết yếu, chế độ ăn giàu rau quả, cá, hạn chế thịt và mỡ động vật, ngưng hút thuốc lá.
Song song với điều trị nội khoa, BN cần chú ý tập luyện thường xuyên trong khả năng, có thể kết hợp với các phương pháp phục hồi chức năng giúp tăng cường sức khỏe nói chung, cải thiện vận động khớp, hạn chế teo cơ, cứng, dính khớp.
Các phương pháp vật lý trị liệu, châm cứu và các phương pháp điều trị y học cổ truyền khác có thể có ích trong việc hỗ trợ cải thiện triệu chứng, cải thiện chức năng vận động khớp; tuy nhiên nhìn chung không thể thay thế điều trị nội khoa.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Phòng ngừa và điều trị gai cột sống

Nếu gai không gây đau, không cần điều trị. Cần giảm cân để giảm sức nặng lên xương khớp. Khi đau cấp có thể đắp nóng hay lạnh tại vùng đau.

BS Vũ Viết Chính, BV Chấn thương chỉnh hình TPHCM cho biết, bệnh gai cột sống là một căn bệnh thoái hóa cột sống, trong đó có sự phát triển không mong muốn của xương hoặc sụn đã bị thoái hóa, bao gồm hẹp đĩa đệm, xơ hoá tấm tận và tạo thành gai xương.
Theo BS Chính, gai cột sống hay gặp ở nam và tăng theo độ tuổi. Đa số người trên 60 tuổi thường có những gai xương này mà không biết và chỉ tình cờ tìm ra khi chụp hình X-quang cơ thể. Gai cột sống có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của cột sống nhưng thường thấy là khu vực thắt lưng và đốt sống cổ.
Một số biểu hiện thường gặp của bệnh gai cột sống
Đa số bệnh gai cột sống không xuất hiện triệu chứng rõ ràng. Tuy nhiên trong quá trình vận động khi gai cọ xát với xương khác hoặc các phần mềm xung quanh thì bệnh nhân thấy đau và thỉnh thoảng rất khó chịu.
- Đau thường xuất hiện ở cổ, thắt lưng, đặc biệt là khi bệnh nhân đứng hoặc đi. Vị trí đau tương ứng với phần cột sống tổn thương liên quan.
- Cảm giác bất thường hoặc mất cảm giác ở phần cột sống liên quan.
- Trường hợp nặng thì đau tê ở cổ lan qua hai tay, đau ở lưng, đau dọc xuống hai chân.
- Đau tăng lên khi đi lại hay vận động nhiều. Cơn đau tăng khi cử động, giảm khi nghỉ do đó sẽ đưa tới hạn chế cử động ở các phần này.
- Khi dây thần kinh bị chèn ép, bệnh nhân cảm thấy đau ở tay và chân, cơ bắp yếu. Nếu ống tủy bị thu hẹp quá, bệnh nhân sẽ có rối loạn đại tiểu tiện, mất cảm giác.
- Mất cân bằng thân.
Ảnh: prevention.
Bệnh nhân gai cột sống thường đau tê ở cổ lan qua hai tay, đau ở lưng, đau dọc xuống hai chân. Ảnh minh họa: prevention.
Điều trị bệnh gai cột sống như thế nào
Nếu gai không gây đau, không cần điều trị. Việc giảm cân để giảm sức nặng lên xương khớp là điều cần làm. Khi bị gai cột sống và có triệu chứng lâm sàng thường được điều trị bảo tồn như sau:
- Hướng dẫn các tư thế đúng phù hợp cơ sinh học của cột sống.
- Thuốc giảm đau thông thường, kháng viêm không steroid, thuốc giãn cơ, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống rung giật.
- Thực hiện các biện pháp tập vật lý trị liệu chủ động, bơi lội.
- Sử dụng một số dụng cụ nâng đỡ như nẹp cổ, nẹp thắt lưng… nhằm giảm bớt gánh nặng lên các đốt sống bị bệnh.
- Nên kết hợp với phương pháp châm cứu, massage, tập di động nhẹ nhàng cột sống.
- Các phương thức tại chỗ bằng hồng ngoại, sóng ngắn, điện xung, đắp ấm, đắp lạnh…
- Cải tạo lại các môi trường xung quanh không làm cột sống chịu tải nhiều. Cải tạo môi trường làm việc như bàn ghế, tầm thích hợp khi làm việc…
- Cải thiện lối sống lành mạnh như ngưng hút thuốc, giảm cân, dinh dưỡng..
Điều trị đau cấp gồm có nghỉ ngơi khi sưng viêm, chườm nước đá, uống paracetamol, thuốc chống viêm không có steroid.
Trong trường hợp đau nhiều, bác sĩ có thể chích thuốc steroid tại chỗ để giảm viêm và đau của thần kinh và cơ bắp. Thuốc có nhiều tác dụng không muốn nếu dùng không đúng cách và không có chỉ định của bác sĩ. 
Dùng lâu, steroid có thể đưa tới mục xương, cao huyết áp, giữ nước trong cơ thể. Hiện nay tại Việt Nam, có nhiều thuốc giảm đau tuy gọi là đông dược nhưng lại có pha thêm steroid. Tác dụng chống viêm sẽ nhanh hơn nhưng tác dụng phụ có hại cũng rất nhiều.
Châm cứu có thể làm giảm đau một phần nào ở phần mềm nhưng không có tác dụng vào tình trạng viêm sưng cũng như khi gai chèn ép lên rễ dây thần kinh não tủy.
Phẫu thuật chỉ đặt ra trong trường hợp có sự chèn ép vào tủy, làm hẹp ống tủy hoặc chèn ép hệ thần kinh gây các dấu hiệu tê chân, tay, rối loạn đại tiểu tiện đau lan tới tứ chi và ảnh hưởng xấu tới sinh hoạt thường nhật. 
Tuy nhiên, ngay cả khi phẫu thuật gai xương vẫn có thể mọc lại ở cùng vị trí cũ vì thực tế quá trình hình thành gai xương là một đáp ứng tự nhiên của cơ thể đối với phản ứng viêm. Nếu bị đau do gai cột sống nên điều trị theo phác đồ của bác sĩ chuyên khoa cột sống cho từng loại bệnh lý và tái khám định kỳ để phát hiện sớm các tiến triển xấu từ đó có biện pháp xử trí thích hợp.
Phòng ngừa bệnh gai cột sống
Giảm đau và giảm độ tàn phế vùng cột sống tổn thương. Cải thiện độ khoẻ, độ mềm dẻo, độ thăng bằng, kiểm soát được vận động cột sống và độ dẻo dai của hệ tim mạch.
Chế độ dinh dưỡng đầy đủ (canxi, vitamin D), hạn chế chất béo nhất là mỡ động vật, và tăng cường ăn rau xanh, trái cây. Không hút thuốc.
Tránh chấn thương cột sống và các tư thế gây chấn thương, ví dụ ngồi xe hơi có bộ phận nâng đầu cổ.
Luôn giữ cột sống ở tư thế tốt, ngồi làm việc, lưng cổ có chỗ dựa, điều chỉnh màn hình hay sách vở ngang tầm mắt, luân phiên thay đổi tư thế. Tránh đứng, ngồi quá lâu ở những tư thế không tốt như ngồi hàng giờ trên bàn làm việc, ngồi xem ti vi hay đọc sách tư thế xấu, màn hình vi tính quá cao hay quá thấp, nằm ngủ tư thế không thoải mái.
Hạn chế làm công việc khuân vác nặng.
Kiểm soát cân nặng, đừng để quá mập hoặc béo phì.
Khi đau cấp có thể đắp nóng hay lạnh tại vùng đau. Thường dùng áp lạnh trong 48-72h đầu tiên sau đó dùng nóng (tắm nóng, khăn nóng, hay túi chườm nóng).
Cần yêu cầu dùng các nẹp hỗ trợ như nẹp cổ, nẹp thắt lưng để giảm khó chịu, nhưng không dùng trong thời gian dài vì làm yếu các cơ nâng đỡ cột sống.
Ngưng các hoạt động thể lực bình thường trong vài ngày đầu để bớt đau và giảm viêm. Tập vận động nhẹ nhàng với tầm hoạt động của cột sống.
Nằm ngủ với nệm cứng đủ mà không cần gối hay dùng gối đặc biệt.
Tránh những môn thể thao quá sức chịu đựng bình thường của mình như cử tạ quá nặng, vận động quá khó. Nên chơi các môn thể thao nhẹ nhàng như bơi lội, tập aerobic, yoga.
Các môn thể thao không nên thực hiện trong giai đoạn sớm trừ khi có sự đồng ý của bác sĩ: chạy, đá banh, golf, múa ballet, nâng tạ, nâng chân khi nằm sấp, ngồi dậy với chân thẳng.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317